Nghệ thuật truyền thống trước cơ hội công nghiệp văn hóa:
Bài 3: Để nghề truyền thống có lớp kế cận
VHO - Đằng sau những suất diễn phục vụ du khách là công việc luyện tập, truyền dạy và gìn giữ vốn nghề qua nhiều thế hệ. Từ những lớp học dân ca ở Hội An đến đội nghệ thuật Chăm tại Mỹ Sơn, thực tiễn cho thấy việc giữ người làm nghề cần những không gian hoạt động thường xuyên, cùng cơ hội tham gia đời sống văn hóa hôm nay.


Một trích đoạn tuồng chỉ kéo dài ít phút có thể là kết quả của nhiều năm luyện giọng, học vũ đạo, cách bộ và phối hợp nhạc công. Với bài chòi, cái khó nằm ở vốn lời, cách ứng tác và khả năng dẫn dắt người chơi. Nghệ thuật Chăm lại đòi hỏi sự am hiểu nhạc cụ, vũ điệu và bối cảnh văn hóa. Những kỹ năng ấy khó được trao truyền đầy đủ qua một vài lớp tập huấn hay chương trình biểu diễn theo mùa.

Tại một tọa đàm về bảo tồn, phát huy nghề truyền thống và văn nghệ dân gian do thành phố Hội An (cũ) tổ chức trong thời điểm xây dựng hồ sơ ứng cử Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, Trung tâm Văn hóa – Thể thao và Truyền thanh – Truyền hình Hội An (trước đây) đã phân tích những vấn đề thực tế trong việc trao truyền văn nghệ dân gian, khó khăn của các câu lạc bộ, sự thiếu hụt người biểu diễn, nhạc công và vấn đề mức thù lao chưa đủ hấp dẫn một bộ phận người trẻ theo nghề.
Điểm chung là người trẻ có thể yêu thích nghệ thuật truyền thống, nhưng để theo nghề lâu dài còn cần nơi học, người dạy và cơ hội thực hành đều đặn.

Đến thời điểm này, Hội An đã chính thức tham gia Mạng lưới Thành phố Sáng tạo của UNESCO ở lĩnh vực thủ công và nghệ thuật dân gian, nhưng những khó khăn trong trao truyền văn nghệ dân gian mà tham luận nêu ra vẫn là vấn đề thời sự cần quan tâm trả lời: Ai sẽ dành thời gian học một bộ môn đòi hỏi nhiều năm nếu không nhìn thấy con đường làm nghề, sống được với thu nhập bền vững từ nghề?
Điều kiện làm nghề cũng không đồng nhất. Nghệ sĩ ở đơn vị chuyên nghiệp, diễn viên tại khu di sản và người tham gia đội nhóm cộng đồng có cách tổ chức công việc và nguồn thu khác nhau. Không thể từ một chương trình đông khách mà suy ra người biểu diễn đã có sinh kế ổn định; cũng không thể đo hiệu quả truyền nghề chỉ bằng số lớp mở hay số tiết mục được trình diễn.

Ở Hội An, nghệ thuật bài chòi có một lợi thế: Không chỉ hiện diện trong chương trình sân khấu mà còn gần gũi với sinh hoạt phố cổ. Người xem có thể nghe, chơi và tương tác trực tiếp với anh hiệu. Chính môi trường ấy tạo cơ hội để lớp trẻ làm quen với lối hô hát, cách ứng tác và vốn ngôn ngữ dân gian trong một không gian sống, thay vì chỉ học thuộc tiết mục.

Một kinh nghiệm cụ thể là các lớp truyền dạy dân ca, bài chòi miễn phí cho thiếu nhi được duy trì nhiều năm ở Hội An, những nghệ nhân, diễn viên như Lương Đáng, Thu Hương, Ngọc Huệ, Văn Quý đã tham gia dạy các em bên cạnh công việc biểu diễn.
Nội dung học có cả bài truyền thống và lời mới phù hợp lứa tuổi; từ lớp học, những em có năng khiếu được phát hiện để tiếp tục bồi dưỡng. Đây là cách hình thành người kế cận từ nhu cầu và hứng thú thực tế của cộng đồng.
Dĩ nhiên, lớp học miễn phí dựa vào tâm huyết nghệ nhân chưa thể thay cho một hệ thống đào tạo nghề bài bản. Nhưng kinh nghiệm Hội An cho thấy truyền dạy có hiệu quả hơn khi gắn với chỗ thực hành, với người xem và cơ hội trở lại sân khấu.
Để phát triển tiếp, điều đáng tính đến là kết nối các lớp học với lịch sinh hoạt câu lạc bộ, chương trình dành cho học sinh và những đợt biểu diễn có hướng dẫn, thay vì chỉ gặp nhau ở dịp lễ hội.

Tại Khu đền tháp Mỹ Sơn, biểu diễn nghệ thuật Chăm đã trở thành một phần quen thuộc trong trải nghiệm tham quan.
Theo thông tin của Ban Quản lý Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn, đội văn nghệ dân gian Chăm được thành lập, với sự tham gia của các nghệ nhân, diễn viên người Chăm và người địa phương; từ tháng 7.2004, hoạt động biểu diễn được tổ chức thường xuyên phục vụ du khách. Quá trình ấy tạo môi trường để nghệ sĩ luyện nghề, phối hợp biểu diễn và đưa âm nhạc, vũ điệu Chăm đến với công chúng.

Mỹ Sơn cũng đã phát triển chương trình “Âm vang Mỹ Sơn”, được giới thiệu tổ chức vào ngày 15 hằng tháng, trên cơ sở sưu tầm, phục dựng và sáng tạo từ chất liệu văn hóa dân gian Chăm. Cách làm này gợi mở việc kết hợp giữa suất diễn phục vụ khách thường ngày với chương trình chuyên đề có nội dung sâu hơn.
Tuy nhiên, sân khấu ở khu di sản chỉ giới thiệu một phần đời sống văn hóa Chăm; việc gìn giữ tri thức, lễ tục trong cộng đồng vẫn cần được quan tâm độc lập.

Đà Nẵng đã có thêm công cụ chính sách cho nghệ thuật bài chòi. Nghị quyết 66/2026/NQ-HĐND ngày 29.6.2026 quy định nội dung và mức hỗ trợ bảo tồn, phát huy loại hình này trong giai đoạn 2026–2030.
Đây là cơ sở để các câu lạc bộ đủ điều kiện duy trì hoạt động và tổ chức các nội dung bảo tồn theo quy định. Nhưng hỗ trợ sinh hoạt, truyền dạy hay trang thiết bị mới giải quyết một phần nhu cầu; việc hình thành công việc biểu diễn, trả thù lao và giữ người học tiếp tục theo nghề còn phụ thuộc cách tổ chức sản phẩm.
Cùng với chính sách, kinh nghiệm đưa tuồng ra không gian công cộng của Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng và các chương trình nghệ thuật phục vụ du khách ở Hội An, Mỹ Sơn cho thấy mỗi loại hình đã có điểm tựa riêng.
Đối với tuồng, đó là đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp và khả năng dựng vở; với bài chòi, là mạng lưới nghệ nhân, câu lạc bộ và người chơi; với nghệ thuật Chăm, là đội biểu diễn gắn với điểm di sản. Điều cần rút ra không phải một mô hình chung áp dụng cho tất cả, mà là cách nối hoạt động truyền dạy với nơi thực hành và nhu cầu thưởng thức phù hợp.

Tại Hội nghị Xúc tiến phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Đà Nẵng ngày 2.10.2026, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng Nguyễn Thị Anh Thi nhấn mạnh việc gắn phát huy di sản với sản phẩm trải nghiệm, sinh kế và những giá trị bền vững.
Trong tham luận tại hội nghị, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam đặt vấn đề phát triển chuỗi giá trị dựa trên tri thức, sáng tạo và nguồn nhân lực.
Đặt vào lĩnh vực biểu diễn truyền thống, những định hướng ấy có thể bắt đầu từ các việc gần gũi: đưa nghệ nhân tham gia biên soạn, hướng dẫn, tư vấn sản phẩm; tạo thêm suất diễn phù hợp; liên kết đơn vị nghệ thuật với trường học, khu di sản và doanh nghiệp lữ hành.
Từ lớp học bài chòi ở Hội An đến đội biểu diễn nghệ thuật Chăm tại Mỹ Sơn, thực tế cho thấy giá trị của những điểm tựa đã có: người truyền dạy, nơi thực hành và công chúng thường xuyên. Những kinh nghiệm ấy có thể được tiếp nối bằng cách kết nối nghệ nhân với trường học, đơn vị biểu diễn và điểm du lịch, đồng thời tạo điều kiện để lớp trẻ được học và thực hành đều đặn. Khi người làm nghề có cơ hội tiếp tục hát, diễn và truyền dạy, nghệ thuật truyền thống mới có nền tảng để đi xa hơn những suất diễn theo mùa.

(Còn tiếp)

RSS