Kế hoạch hành động của Bộ VHTTDL thực hiện Nghị quyết 263/NQ-CP:
Đưa du lịch vào vị trí trung tâm của chuỗi giá trị dịch vụ
VHO - Kế hoạch hành động của Bộ VHTTDL thực hiện Nghị quyết 263/NQ-CP đã cụ thể hóa khá rõ cách Việt Nam đưa mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn vào hệ thống nhiệm vụ, sản phẩm và thời hạn thực hiện.

Mục tiêu lớn và những việc phải làm được
Điểm đáng quan tâm là tư duy phát triển: Tăng trưởng du lịch được đặt cùng với năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng, chuyển đổi số, kinh tế đêm, công nghiệp văn hóa, chuyển đổi xanh và hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế.
Kế hoạch hành động được Bộ VHTTDL ban hành nhằm tổ chức triển khai các nhiệm vụ được Chính phủ giao tại Nghị quyết số 263/NQ-CP ngày 7.9.2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22.8.2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới; đồng thời xác định rõ nội dung công việc, sản phẩm đầu ra, đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp và tiến độ thực hiện.
Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam được giao giữ vai trò đầu mối theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện.
Nếu nhìn từ góc độ quản trị ngành, giá trị nổi bật của Kế hoạch nằm ở việc chuyển các định hướng vĩ mô thành một hệ thống nhiệm vụ có đầu ra và thời hạn cụ thể.
Đến năm 2030, ngành Du lịch đặt mục tiêu đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa, đạt tổng thu 80 - 90 tỉ USD, đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP; phấn đấu nằm trong nhóm 1 - 3 quốc gia Đông Nam Á về quy mô và tốc độ tăng trưởng du lịch.
Cùng với đó là hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM, 10 trung tâm du lịch trọng điểm, 20 khu du lịch quốc gia và 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu, sức cạnh tranh quốc tế.
Những chỉ tiêu này đặt ra một yêu cầu quan trọng: du lịch phải được nhìn bằng hiệu quả kinh tế tổng thể, chứ không chỉ tăng số lượng khách. Tổng thu, mức đóng góp GDP, năng lực doanh nghiệp, việc làm, quy mô lưu trú và vị thế cạnh tranh khu vực trở thành những thước đo song hành với lượng khách.
Đây cũng là lý do Kế hoạch dành một nhóm nhiệm vụ riêng cho phát triển thị trường và sản phẩm có giá trị cao, ưu tiên nhóm khách có khả năng chi tiêu cao, lưu trú dài ngày.
Đồng thời thúc đẩy các sản phẩm gắn với văn hóa, công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, kinh tế đêm, du lịch y tế, chăm sóc sức khỏe, ẩm thực, MICE, thể thao và triển lãm.

Du lịch phải trở thành một mắt xích lớn của nền kinh tế dịch vụ
Một điểm có ý nghĩa về tư duy phát triển là Kế hoạch đặt yêu cầu xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, đưa du lịch vào trung tâm chuỗi giá trị dịch vụ liên quan đến thương mại, giao thông, nông nghiệp, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp sáng tạo, tài chính, ngân hàng và công nghệ.
Với cách tiếp cận này, du lịch được nhìn nhận như một ngành có khả năng lan tỏa giá trị rộng khắp nền kinh tế, kết nối doanh thu của lữ hành, lưu trú, điểm tham quan với hàng không, đường sắt, bán lẻ, ẩm thực, giải trí, nghệ thuật, thời trang, thể thao, nông nghiệp và các dịch vụ số.
Đây là dư địa rất lớn của Việt Nam. Một điểm đến có tài nguyên phong phú nhưng nếu du khách rời đi sau vài giờ, thiếu dịch vụ buổi tối, thiếu sản phẩm mua sắm, giải trí và trải nghiệm chuyên sâu thì khả năng gia tăng chi tiêu vẫn hạn chế.
Kế hoạch đã đặt vấn đề phát triển kinh tế ban đêm, kinh tế ven sông, ven biển, các tổ hợp du lịch - giải trí - văn hóa - thể thao và thí điểm trung tâm du lịch - giải trí - thương mại hoạt động 24/7.
Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu nâng giá trị mỗi chuyến đi: kéo dài thời gian hoạt động của điểm đến, mở rộng chuỗi dịch vụ và tăng mức chi tiêu của du khách.
Tạo không gian phát triển mới cho điểm đến
Kế hoạch cũng dành nguồn lực đáng kể cho hạ tầng và hình thành các trung tâm du lịch có sức cạnh tranh cao. Các nhiệm vụ bao gồm kết nối cảng hàng không, cảng tàu du lịch, bến du thuyền, đường sắt du lịch; phát triển outlet; thu hút đầu tư vào các trung tâm nghỉ dưỡng biển đảo, trung tâm đa dịch vụ hoạt động 24/7.
Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM và Phú Quốc được định hướng phát huy vai trò các cực, trung tâm du lịch trọng điểm.
Cùng với đó, công tác xúc tiến được tổ chức lại theo hướng có mục tiêu, thị trường, thông điệp và chỉ số đánh giá cụ thể.
Kế hoạch đặt ra Chương trình xúc tiến du lịch quốc gia giai đoạn 2026 - 2035, Đề án nâng tầm thương hiệu du lịch quốc gia, hệ thống văn phòng xúc tiến tại thị trường trọng điểm, dữ liệu nội dung du lịch đa ngôn ngữ và mạng lưới Đại sứ du lịch số.
Điểm cần nhấn mạnh là xúc tiến được gắn với năng lực cung ứng thực tế của điểm đến. Quảng bá tốt nhưng sản phẩm nghèo, kết nối khó khăn hoặc trải nghiệm thiếu chiều sâu sẽ khó tạo ra mức chi tiêu và tỉ lệ khách quay lại cao. Vì vậy, xúc tiến phải đi cùng phát triển sản phẩm, hạ tầng và chất lượng dịch vụ.

Công nghệ và xanh hóa trở thành hạ tầng mới của du lịch
Kế hoạch dành riêng một nhóm nhiệm vụ cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và du lịch thông minh.
Ngành hướng tới nền tảng số dùng chung, cơ sở dữ liệu du lịch Việt Nam, bản đồ số, vé điện tử, trợ lý du lịch ảo đa ngôn ngữ, bảo tàng số, thuyết minh đa phương tiện, đồng thời nghiên cứu ứng dụng AI, Big Data, VR/AR trong hệ sinh thái du lịch thông minh.
Đến năm 2030, mục tiêu là hoàn thành và đưa vào vận hành hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu du lịch Việt Nam và nền tảng số du lịch quốc gia.
Song song với số hóa là yêu cầu xanh hóa. Kế hoạch đặt ra tiêu chuẩn du lịch xanh, chứng chỉ du lịch bền vững, giao thông xanh, sử dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải; đồng thời xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về sức tải môi trường.
Đây là hai trụ cột có quan hệ chặt chẽ với năng lực cạnh tranh của điểm đến trong giai đoạn tới: điểm đến thông minh giúp vận hành hiệu quả hơn; điểm đến xanh giúp bảo vệ tài nguyên và duy trì sức hấp dẫn dài hạn.
Khả năng tạo giá trị của du lịch
Kế hoạch đã đưa ra một danh mục công việc khá cụ thể với thời hạn từ năm 2026 đến 2028.
Trong đó có những nhiệm vụ nền tảng như xây dựng Luật Du lịch sửa đổi, xây dựng định hướng phát triển du lịch đến năm 2035, cơ chế phối hợp liên ngành, chính sách cho kinh tế đêm và trung tâm hoạt động 24/7; phát triển sản phẩm và thị trường đến năm 2035; nâng tầm thương hiệu quốc gia; xây dựng Đề án chuyển đổi số; hoàn thiện cơ chế quản trị hiện đại và các bộ chỉ số đánh giá năng lực phát triển du lịch.
Đặc biệt, Kế hoạch đã xác lập cơ chế kiểm tra, báo cáo và phân công trách nhiệm khá rõ. Các đơn vị thuộc Bộ phải định kỳ báo cáo trước ngày 5.12 hằng năm; Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng trước ngày 10.12 để báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Thành công của Kế hoạch sẽ được quyết định bởi khả năng chuyển hóa hệ thống nhiệm vụ thành những thay đổi thực chất tại điểm đến.
Khi thể chế thông thoáng hơn, doanh nghiệp có thêm không gian sáng tạo, sản phẩm có khả năng giữ khách lâu hơn, chi tiêu được mở rộng, dữ liệu được chia sẻ và cộng đồng địa phương nhận được lợi ích rõ ràng, mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn mới có nền tảng vững chắc.
Khi đó, tăng trưởng du lịch sẽ được đo bằng giá trị tạo ra cho nền kinh tế, sức cạnh tranh của điểm đến và chất lượng sống của cộng đồng, chứ không chỉ bằng số lượt khách.
Đây chính là ý nghĩa sâu xa của việc cụ thể hóa Nghị quyết 26-NQ/TW và Nghị quyết 263/NQ-CP bằng một Kế hoạch có chỉ tiêu, nhiệm vụ, sản phẩm đầu ra và trách nhiệm thực hiện rõ ràng.

RSS