“Đánh thức” Pù Hu thành điểm đến xanh của xứ Thanh

NGUYỄN LINH

VHO - Với đề án quy mô gần 600 tỉ đồng, Thanh Hóa đặt mục tiêu đưa Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu trở thành trung tâm du lịch sinh thái đặc sắc, nơi rừng được giữ, văn hóa được hồi sinh và sinh kế người dân được nâng lên từ chính tài nguyên bản địa.

“Đánh thức” Pù Hu thành điểm đến xanh của xứ Thanh - ảnh 1
Bản Yên (xã Hiền Kiệt), điểm du lịch cộng đồng nằm trong vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu

UBND tỉnh Thanh Hóa đã chính thức phê duyệt Đề án phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.

Tạo cú hích để Pù Hu bứt phá

Pù Hu từ lâu được biết đến là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên có hệ sinh thái phong phú, với nhiều loài động, thực vật quý hiếm cùng cảnh quan nguyên sơ. Tuy nhiên, tiềm năng ấy vẫn chưa được khai thác tương xứng.

Đề án lần này đặt ra mục tiêu rõ ràng: phát triển Pù Hu thành mô hình du lịch sinh thái kiểu mẫu, chuyên nghiệp và có trách nhiệm.

Không chỉ đơn thuần là khai thác cảnh quan, du lịch tại đây phải gắn với bảo tồn, giáo dục môi trường và nâng cao nhận thức cộng đồng.

Theo kế hoạch, đến năm 2030, khu bảo tồn sẽ đón khoảng 10.000 lượt khách mỗi năm, trong đó khách quốc tế chiếm 20%.

Con số này sẽ tăng gấp ba lần vào năm 2035, đạt 30.000 lượt khách/năm, cho thấy kỳ vọng lớn về sức hút của điểm đến này trong tương lai.

Đi cùng với lượng khách là mục tiêu doanh thu: từ 11 tỉ đồng vào năm 2030 lên khoảng 60 tỉ đồng vào năm 2035. Đây không chỉ là nguồn thu du lịch, mà còn là “nguồn lực sống” để tái đầu tư cho công tác bảo vệ rừng và phát triển hệ sinh thái.

Một điểm đáng chú ý là định hướng phát triển theo nguyên tắc của du lịch sinh thái quốc tế: tôn trọng thiên nhiên, tôn trọng văn hóa, giảm thiểu tác động và đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các bên liên quan.

Các hoạt động du lịch sẽ bị kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, nơi không cho phép xây dựng hay lưu trú.

Để hiện thực hóa mục tiêu, hệ thống sản phẩm du lịch sẽ được hình thành đa dạng: từ trekking, khám phá rừng, chinh phục đỉnh Pù Hu, đến tham quan thác nước, trải nghiệm nông nghiệp và tìm hiểu văn hóa bản địa.

Các tuyến du lịch nội vùng dài hơn 100km sẽ được khai thác, kết nối với các điểm du lịch lân cận, tạo thành mạng lưới trải nghiệm phong phú.

Khi người dân trở thành “chủ thể” du lịch

Một trong những điểm cốt lõi của đề án là đặt cộng đồng địa phương vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển.

“Đánh thức” Pù Hu thành điểm đến xanh của xứ Thanh - ảnh 2
Cây chò xanh tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu được công nhận là Cây Di sản Việt Nam

Theo đó, người dân các bản làng vùng đệm, nơi có đồng bào Thái, Mông, Mường sinh sống, sẽ trực tiếp tham gia vào chuỗi dịch vụ du lịch.

Từ mô hình homestay, ẩm thực, biểu diễn văn hóa, đến vai trò hướng dẫn viên bản địa, tất cả đều hướng tới mục tiêu biến người dân thành “chủ thể” thay vì chỉ là người hưởng lợi gián tiếp.

Dự kiến đến năm 2030 sẽ có khoảng 10 cơ sở lưu trú cộng đồng được hình thành, tăng lên 30 cơ sở vào năm 2035.

Song song, khoảng 200 lao động du lịch sẽ được đào tạo trong giai đoạn đầu, con số này tăng lên 500 người trong giai đoạn sau, với yêu cầu ngày càng cao về kỹ năng và ngoại ngữ.

Không chỉ tạo việc làm, du lịch còn mở ra hướng phát triển sinh kế bền vững.

Các sản phẩm nông nghiệp, thủ công truyền thống, văn hóa lễ hội… sẽ được “đánh thức” để trở thành hàng hóa du lịch, góp phần giữ gìn bản sắc và tăng thu nhập cho người dân.

Đáng chú ý, đề án khuyến khích mô hình chia sẻ lợi ích giữa chủ rừng và cộng đồng, tạo động lực để người dân tham gia bảo vệ rừng. Khi rừng trở thành “tài sản sinh kế”, ý thức gìn giữ cũng được nâng cao một cách tự nhiên.

Để triển khai đề án, tổng kinh phí dự kiến lên tới hơn 598 tỉ đồng, trong đó nguồn vốn xã hội hóa chiếm trên 56%. Điều này cho thấy định hướng rõ ràng: Nhà nước đóng vai trò “bà đỡ”, còn doanh nghiệp và xã hội là động lực chính cho phát triển.

Một cơ chế đáng chú ý là “cho thuê môi trường rừng”. Theo đó, doanh nghiệp có thể đầu tư phát triển du lịch trên cơ sở thuê quyền khai thác, nhưng vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định bảo vệ rừng.

Giá thuê được tính tối thiểu từ 1% doanh thu, thậm chí cao hơn với những khu vực có giá trị sinh thái lớn.

Song song, các giải pháp bảo vệ môi trường được đặt ra khá toàn diện: từ sử dụng vật liệu thân thiện, hạn chế phương tiện gây ô nhiễm, đến triển khai các chương trình giáo dục môi trường cho du khách.

Hoạt động du lịch không chỉ dừng ở trải nghiệm mà còn phải góp phần nâng cao ý thức bảo tồn.

Các chương trình như trồng rừng, đổi rác lấy cây, hay tham quan gắn với giáo dục sinh thái sẽ giúp du khách trở thành một phần của hành trình bảo vệ thiên nhiên, thay vì chỉ là người tiêu dùng dịch vụ.

Bên cạnh đó, khu vực vùng đệm Pù Hu còn lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống của các dân tộc Thái, Mường, Mông với nhà sàn, điệu xòe, tiếng khèn, góp phần tạo nên sức hút riêng cho du lịch cộng đồng.Pù Hu đang đứng trước một cơ hội lớn để chuyển mình. Từ một khu rừng già ít người biết đến, nơi đây có thể trở thành điểm đến sinh thái đặc sắc của khu vực Bắc Trung Bộ.

Nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa, cách trung tâm khoảng 135km, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu được ví như “lá phổi xanh” của miền biên viễn, hội tụ nhiều giá trị sinh học, cảnh quan và văn hóa đặc sắc.

Được thành lập năm 1999, khu bảo tồn có diện tích hơn 28.476ha, trải rộng trên địa bàn 8 xã, trong đó rừng đặc dụng chiếm trên 24.200ha, là nguồn tài nguyên quý giá cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

Pù Hu sở hữu địa hình đa dạng với núi đất, núi đá vôi xen kẽ, nổi bật là đỉnh Pù Hu cao 1.468m cùng hệ thống sông suối, thác nước như thác Khặt, thác Sơn Dương… tạo nên cảnh quan nguyên sơ, hùng vĩ.

Không chỉ giàu tài nguyên cảnh quan, nơi đây còn được xem là “ngân hàng gen” của tỉnh với 1.725 loài thực vật và 915 loài động vật, trong đó có hàng trăm loài quý hiếm được ghi nhận trong Sách đỏ và các danh mục bảo tồn.

Bên cạnh đó, khu vực vùng đệm Pù Hu còn lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống của các dân tộc Thái, Mường, Mông với nhà sàn, điệu xòe, tiếng khèn, góp phần tạo nên sức hút riêng cho du lịch cộng đồng.