Phòng tránh lây truyền giang mai từ mẹ sang con
VHO - Giang mai bẩm sinh là tình trạng nhiễm xoắn khuẩn Treponema pallidum từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2022 ước tính có khoảng 700.000 trường hợp giang mai bẩm sinh trên toàn cầu.
Trong 700.000 trường hợp này gây hơn 200.000 ca thai lưu, tử vong sơ sinh hoặc trẻ sinh ra với dị tật nặng. Đây là vấn đề y tế công cộng đáng báo động.
Theo WHO, tỉ lệ lây truyền từ mẹ sang con phụ thuộc vào giai đoạn bệnh của mẹ: Giang mai sớm (có biểu hiện lâm sàng): 70–100%; Giang mai tiềm ẩn sớm: khoảng 40%; Giang mai muộn: khoảng 10%.
Tại Việt Nam, số ca giang mai ở người lớn đang có xu hướng gia tăng, kéo theo sự xuất hiện của nhiều trường hợp giang mai bẩm sinh, đặc biệt tại các bệnh viện tuyến cuối. Không ít trường hợp được phát hiện muộn do phụ nữ mang thai không được sàng lọc đầy đủ, nhất là tại tuyến y tế cơ sở.

BSCKII. Trần Thị Vân Anh Phó trưởng khoa Điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em (Bệnh viện Da liễu Trung ương) cho biết, vừa qua Bệnh viện tiếp nhận bệnh nhi gần 3 tuổi mắc giang mai bẩm sinh, phát hiện muộn, chưa có biểu hiện lâm sàng. Nguyên nhân có thể do lây truyền từ mẹ sang con trong thai kỳ khi người mẹ mắc giang mai nhưng không được sàng lọc và điều trị đầy đủ trước sinh.
“Hiện tại, bệnh nhi đang trong quá trình điều trị và được theo dõi sát tại bệnh viện. Nếu được điều trị đầy đủ ở giai đoạn chưa có biểu hiện lâm sàng, trẻ có khả năng khỏi hoàn toàn và phát triển bình thường, không để lại di chứng”, Phó trưởng khoa Điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em cho hay.
Theo bác sĩ Vân Anh, trẻ bị giang mai bẩm sinh có thể không biểu hiện triệu chứng trong những năm đầu đời, nhưng nếu không điều trị, trẻ có nguy cơ xuất hiện các biến chứng muộn nghiêm trọng.
Những biến chứng này thường xuất hiện sau 2 tuổi và rất khó điều trị hồi phục hoàn toàn: Rối loạn thính giác (điếc thần kinh), tổn thương mắt (viêm giác mạc kẽ, giảm thị lực), dị dạng xương (xương chày cong, trán dô), tổn thương thần kinh, chậm phát triển trí tuệ, tổn thương tim mạch và khớp…
Do đó, khi phát hiện bệnh nhi giang mai, trẻ cần được theo dõi lâm sàng và xét nghiệm huyết thanh định kỳ sau điều trị (3–6–12 tháng). Hiệu giá kháng thể cần giảm ít nhất 4 lần hoặc chuyển âm tính theo thời gian.
Để phòng tránh trẻ mắc giang mai bẩm sinh, bác sĩ Vân Anh nhấn mạnh vai trò then chốt của sàng lọc giang mai định kỳ trong thai kỳ - một xét nghiệm đơn giản, chi phí thấp nhưng có thể cứu trẻ khỏi những di chứng nặng nề suốt đời.
Nếu người mẹ được phát hiện giang mai và điều trị đầy đủ bằng benzathin penicillin ít nhất 30 ngày trước sinh, nguy cơ lây truyền sang con có thể giảm xuống dưới 1–2%.
Bệnh viện Da liễu Trung ương đang tích cực phối hợp đa chuyên khoa (da liễu – sản khoa – nhi khoa), triển khai các xét nghiệm sàng lọc sớm và tham gia chương trình quốc gia “Loại trừ lây truyền giang mai từ mẹ sang con” (2018–2030), hướng tới mục tiêu sàng lọc ≥95% phụ nữ mang thai.
Các bác sĩ khuyến cáo, phụ nữ mang thai không nên bỏ qua sàng lọc giang mai: thực hiện ít nhất 1 lần trong 3 tháng đầu, lặp lại ở tuần 28–36 và khi sinh, đặc biệt với nhóm nguy cơ cao.
Khi xét nghiệm dương tính, cần điều trị ngay bằng penicillin theo đúng phác đồ để bảo vệ sức khỏe của mẹ và thai nhi.
Cả hai vợ chồng cần được sàng lọc và điều trị khi cần thiết. Không chờ đến khi có triệu chứng: giang mai có thể “im lặng” nhưng hậu quả để lại là rất nặng nề.
Hành động sớm hôm nay chính là cách bảo vệ thế hệ tương lai khỏi những di chứng có thể phòng tránh được của giang mai bẩm sinh.
| Giang mai là bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) do một loại vi khuẩn có tên là Treponema pallidum gây ra. Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ, tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh giang mai có dấu hiệu giảm, nhưng ở nam giới, đặc biệt là nam giới có quan hệ tình dục đồng giới, đang tăng lên. Tương tự như các bệnh lây qua đường tình dục khác, giang mai cũng khó chẩn đoán vì người nhiễm bệnh thường không có bất kỳ triệu chứng nào trong nhiều năm. Nếu nhiễm giang mai quá lâu và không được điều trị đúng cách, bệnh có thể gây ra tổn thương lớn đến các cơ quan nội tạng quan trọng như tim, não… |

RSS