Mừng được trả lại tên làng
VHO - Cách nay khoảng 15 năm, nhân gặp một người cháu bà con là Bí thư Đảng ủy xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), người viết có hỏi: “Này cháu. Xã Đức Nhuận mình có Thôn 1, Thôn 2… , xã Đức Chánh bên cạnh cũng có Thôn 1, Thôn 2…, nên mỗi khi viết phải thêm “Thôn 1 Đức Nhuận”… kẻo nhầm qua xã khác.
Sao không đổi lại tên thôn xưa là Bồ Đề, Năng An, vừa khỏi nhầm lẫn, lại vừa tiện kết nối với lịch sử, văn hóa xưa?”. Cậu cháu trả lời: “Dạ đúng vậy, nhưng đã lỡ rồi, giờ đổi lại là cả sự phiền phức, vì nó gắn với biết bao giấy tờ của cá nhân, tổ chức”!
Mấy chục năm trôi qua, nay có chủ trương sáp nhập thôn, tổ dân phố. Mùa xuân này có lệ tế xuân và kỷ niệm 555 năm Tiền hiền Lê Quang Đại tùng chinh vua Lê Thánh Tông năm 1471 rồi ở lại cùng dân khai phá làng Năng An (nay thuộc xã Long Phụng, Quảng Ngãi). Ngồi bên cạnh một anh cán bộ Mặt trận xã Long Phụng, nhân nói việc sáp nhập thôn sắp tới, người viết hỏi, vậy tên gọi của thôn mới là thế nào, anh bảo: Nói chung là lấy lại tên truyền thống. Như ở đây, lấy lại tên thôn Năng An. Mấy người dân ngồi bên cùng cất tiếng: Được đó!
Xã Đức Nhuận huyện Mộ Đức cũ (nay thuộc xã Long Phụng) nguyên có hai thôn Bồ Đề và Năng An. Hai tên gọi này đã có từ nhiều trăm năm trước, và dĩ nhiên nó gắn liền với bề dày văn hóa. Đơn cử: Thôn Bồ Đề có miếu Bà Ngôn là người đầu tiên đưa xe nước về Quảng Ngãi, có miếu thờ Tả quân Lê Văn Duyệt. Thời Nho học, Bồ Đề có đến ba người đỗ cử nhân là Trần Quý Phụng (1900), Trần Phan (thủ khoa thi hương 1912), Lê Văn Duy (1918).
Thôn Năng An có thời đặt huyện lỵ Mộ Đức, là nơi gắn liền với tên tuổi và di tích Lê Quang Đại (di tích cấp tỉnh), là một trong những làng ở Quảng Ngãi có số người thi đỗ nhiều nhất thời Nho học, với năm cử nhân: Nguyễn Trọng Đôn (1843), Nguyễn Trọng Biện (1858), Lê Địch Cát (1868), Trần Văn Thể (1870), Trần Văn Trạch (1812). Tại Bồ Đề và Năng An có rất nhiều di tích cũ gắn liền với các tên gọi này.
Thời gian mấy chục năm các thôn Bồ Đề, Năng An đổi là Thôn 1, Thôn 2… đương nhiên khi người ta nói đến mấy nét truyền thống như trên, ắt gặp trở ngại để truy tầm. Muốn tìm cái gì thuộc về lịch sử, văn hóa, lại lần từ Thôn 1, Thôn 2… xem xưa là thôn gì. Nay nhân việc sáp nhập thôn mới, mọi người đồng tình lấy lại tên thôn xưa, quả là điều rất đáng mừng. Cụ thể các thôn 1, 2 hợp lại thành thôn Bồ Đề, các thôn 6, 7, 8 lấy lại là thôn Năng An.
Không riêng gì trường hợp ở xã Long Phụng, một số tên thôn ở xã Mỏ Cày kế cận cũng được trả lại tên xưa, như Phước Lai, Văn Bân, Kiến Khương, ở xã Mộ Đức thì đó là trường hợp tên các thôn: Vạn Phước, Đồng Cát. Đó cũng chỉ mới đơn cử một số trường hợp các xã thuộc huyện Mộ Đức cũ. Nhiều xã trong tỉnh Quảng Ngãi cũng nằm trong trường hợp này. Tôi tin rằng nếu được phục hồi tên thôn xưa, bà con ở đâu cũng mừng như ở đây.
Tuy vậy, trường hợp phục hồi tên thôn truyền thống không phải nơi nào cũng có thể thực hiện như ở Bồ Đề và Năng An. Lý do là có nhiều trường hợp thôn nay không hoàn toàn khớp về địa lý với thôn xưa, mà có khi gồm nhiều thôn xưa hợp lại, đương nhiên cũng có nhiều tên xưa, tạo nên sự khó nghĩ. Ngay như ở xã Đức Nhuận cũ (nay là xã Long Phụng) làng Lạc Phố xưa cũng rất đáng chú ý. Đây là quê hương của Phó bảng Nguyễn Bá Nghi (1832), một đại thần của triều Nguyễn mà học thức khiến chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng cũng kính phục, Nguyễn Bá Loan, con trai của ông là chí sĩ nổi tiếng trong phong trào Cần vương và Duy tân ở Quảng Ngãi.
Tuy nhiên, sau Cách mạng Tháng Tám 1945, làng Lạc Phố nhập vào thôn Năng An vì lẽ diện tích Lạc Phố quá nhỏ, không thể lập riêng một thôn mới. Bởi vậy muốn truy tầm về Lạc Phố lại phải dẫn chú đến Năng An, không thể khác. Tùy theo trường hợp cụ thể ở từng địa phương mà người ta chọn cái tên nào xem ra phù hợp nhất cho địa phương mình, đương nhiên là được người dân đồng tình. Cũng là một sự tất yếu. Ở đây không thể có sự cầu toàn.
Phục hồi được tên gọi thôn xưa là niềm vui của chính người dân địa phương cũng như tất cả chúng ta.

RSS