Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên mới:
Bài cuối - Xây dựng hệ sinh thái đồng bộ cho nguồn nhân lực chất lượng cao
VHO - Trong cuộc cạnh tranh nhân lực toàn cầu, đào tạo người giỏi mới là bước khởi đầu. Muốn biến nhân lực chất lượng cao thành động lực phát triển, Việt Nam cần một hệ sinh thái đủ mạnh để thu hút chuyên gia, trọng dụng nhân tài, gắn nhà trường với doanh nghiệp và mở rộng hợp tác quốc tế, qua đó khơi thông nguồn lực trí tuệ cho mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Trọng dụng nhân tài
Ngày 10.12.2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 248/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội nhằm thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị quyết 248 là phân cấp, trao quyền trực tiếp và tối đa hơn cho người đứng đầu cơ quan chuyên môn.
Theo đó, Giám đốc Sở GD&ĐT được trao thẩm quyền trực tiếp tuyển dụng, tiếp nhận nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên trong các cơ sở giáo dục công lập từ mầm non đến trung học nghề trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tự chủ trong việc xác định vị trí việc làm, quyết định tuyển dụng, ký hợp đồng lao động với chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài có trình độ tiến sĩ. Sự tháo gỡ này giúp các cơ sở đào tạo chủ động hơn trong tìm kiếm, lựa chọn và sử dụng nhân tài.
Để cụ thể hóa chiến lược thu hút nhân lực trình độ cao cho ngành giáo dục, ngày 31.3.2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 530/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về nước giảng dạy, nghiên cứu. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2035 thu hút 2.030 chuyên gia xuất sắc hàng đầu thế giới tham gia vào hệ thống giáo dục Việt Nam.
Trong đó, có ít nhất 30 chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc có khả năng dẫn dắt, chủ trì các nhiệm vụ trọng điểm về giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nhất là các công nghệ then chốt, chiến lược. Chương trình cũng hướng tới thu hút 500 chuyên gia, nhà khoa học làm việc toàn thời gian tại các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, có khả năng đảm nhiệm vị trí trưởng nhóm nghiên cứu, trưởng phòng thí nghiệm, giám đốc chương trình đào tạo. Cùng với đó, mục tiêu 1.500 chuyên gia, nhà khoa học hợp tác thường xuyên hoặc cộng tác từ xa mở ra hướng sử dụng nguồn lực trí tuệ toàn cầu theo cách linh hoạt hơn.
Cách tiếp cận này phù hợp với thực tế dịch chuyển nhân lực chất lượng cao hiện nay. Nhiều chuyên gia chưa thể về nước dài hạn, nhưng vẫn có thể đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, tham gia hội đồng khoa học, cố vấn chương trình đào tạo, kết nối phòng thí nghiệm, triển khai dự án chung hoặc hỗ trợ chuyển giao công nghệ. Nếu được tổ chức tốt, nguồn lực người Việt ở nước ngoài có thể trở thành một phần của hệ sinh thái nhân lực trong nước, thay vì chỉ được nhìn như lực lượng cần “mời về”.
Quyết định 530 cũng đặt ra yêu cầu nghiên cứu, xây dựng cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm đặc thù; chính sách tiền lương, tiền thưởng, thuế thu nhập cá nhân; công nhận tương đương chức danh giáo sư, phó giáo sư và các chức danh giảng viên được phong tặng ở nước ngoài. Đi cùng với đó là cải cách thủ tục hành chính, cấp giấy phép lao động, thị thực, cư trú; tạo điều kiện về môi trường sống, nhà ở và dịch vụ công thiết yếu để chuyên gia, nhà khoa học cùng gia đình có thể ổn định khi làm việc tại Việt Nam.
Tiếp cận đa nguồn lực
Theo TS Trần Nam Tú, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, Bộ GD&ĐT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi cách tiếp cận đa nguồn lực. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, nhân lực chất lượng cao đã trở thành “tài nguyên chiến lược” của mỗi quốc gia. Ngân sách nhà nước không thể một mình gánh vác nhiệm vụ này, mà cần huy động sự tham gia của doanh nghiệp, trường đại học và các tổ chức xã hội.
Đề án 1002 đã nêu rõ yêu cầu mở rộng hợp tác, liên kết trong nước và quốc tế, tăng cường khai thác các nguồn lực xã hội trong đào tạo nhân lực công nghệ cao. Với những lĩnh vực có chi phí đào tạo lớn, thời gian chuẩn bị dài và đòi hỏi điều kiện thực hành cao như STEM, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học và các ngành công nghệ chiến lược, yêu cầu này càng có ý nghĩa trực tiếp. Nếu thiếu phòng thí nghiệm, thiết bị, phần mềm, dữ liệu, chuyên gia hướng dẫn và môi trường thực hành, chương trình đào tạo khó có thể tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng chuẩn công nghệ cao.
Sự tham gia của doanh nghiệp cần bắt đầu ngay từ quá trình đào tạo, thay vì chỉ xuất hiện ở khâu tuyển dụng. Doanh nghiệp là nơi đặt ra chuẩn kỹ năng, chuẩn công nghệ và yêu cầu thực tế của từng vị trí việc làm. Khi doanh nghiệp cùng xây dựng chương trình, hỗ trợ thiết bị, cấp học bổng, mở môi trường thực tập, đưa bài toán thực tế vào nhà trường và tiếp nhận người học sau đào tạo, khoảng cách giữa nhà trường và thị trường lao động mới có cơ hội được thu hẹp.
Từ thực tiễn doanh nghiệp, TS Đỗ Đức Dũng, Samsung R&D Center Việt Nam cho biết, sinh viên Việt Nam có lợi thế về năng lực tự học và khả năng thích ứng nhanh. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của các dự án công nghệ phức tạp, nguồn nhân lực không chỉ cần kiến thức nền tốt, mà còn phải có năng lực nghiên cứu chuyên sâu, trình độ học thuật cao và khả năng làm việc trong môi trường công nghệ toàn cầu. Vì vậy, doanh nghiệp cần tham gia sớm hơn vào quá trình đào tạo, từ đặt hàng kỹ năng, hỗ trợ môi trường thực hành đến phối hợp với nhà trường trong phát triển đội ngũ thạc sĩ, tiến sĩ và chuyên gia công nghệ.
Trong lĩnh vực bán dẫn, mô hình liên kết Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp đã bắt đầu hình thành rõ hơn. Đến nay, có khoảng 100 biên bản ghi nhớ hợp tác phát triển nhân lực bán dẫn; khoảng 30 phòng thí nghiệm ngành gần, bán dẫn đã được xây dựng; 4 phòng thí nghiệm bán dẫn quốc gia và 19 phòng thí nghiệm cấp cơ sở dự kiến đưa vào sử dụng trong giai đoạn 2026-2027. NIC cũng đã huy động gần 1.000 bản quyền phần mềm thiết kế vi mạch từ các tập đoàn lớn cho hơn 30 cơ sở giáo dục, phục vụ khoảng 5.000 sinh viên và giảng viên.
Những con số này cho thấy đào tạo nhân lực công nghệ cao không thể chỉ vận hành trong phạm vi nhà trường. Sự tham gia của doanh nghiệp giúp quá trình đào tạo bám sát hơn nhu cầu sử dụng nhân lực; doanh nghiệp có điều kiện nhận diện sớm, bồi dưỡng và tuyển chọn người phù hợp với yêu cầu công việc; sinh viên có thêm cơ hội thực hành trong môi trường nghề nghiệp, hiểu rõ hơn chuẩn kỹ năng, kỷ luật lao động và yêu cầu của vị trí việc làm. Khi đó, khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng được thu hẹp, giảm tình trạng doanh nghiệp phải đào tạo lại sau tuyển dụng.
Khi các điểm nghẽn được khơi thông, cùng với sự đồng hành của các nhà khoa học và doanh nghiệp, Việt Nam có thêm cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới. Đây chính là yếu tố quyết định để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên mới không thể dừng ở việc mở thêm ngành học hay tăng chỉ tiêu đào tạo. Điều cốt lõi là hình thành một hệ sinh thái đồng bộ, trong đó Nhà nước tạo cơ chế đột phá, nhà trường đổi mới chương trình và phương thức đào tạo, doanh nghiệp tham gia từ sớm vào quá trình chuẩn bị nhân lực, còn đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước được trọng dụng bằng chính sách đủ hấp dẫn.
Khi những điểm nghẽn về tuyển dụng, đãi ngộ, môi trường nghiên cứu, phòng thí nghiệm, dữ liệu và thực hành được khơi thông, Việt Nam sẽ có thêm nền tảng để tạo ra lực lượng lao động chất lượng cao, đủ năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững.

RSS