“Với tôi, còn thở là còn then”

VHO- Ngoài khả năng hát then, đàn tính, ông còn hát được một số làn điệu dân ca khác của dân tộc Tày, như hát Phong Slư, lượn, cọi, nàng ới bằng lời cổ và cải biên, đặc biệt là làn điệu Pụt - mời lẩu.

Ông là Lưu Xuân Lai, xóm Đồng Uẩn, xã Phúc Chu, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Ông có cả nghìn học trò theo học hát then, đàn tính. Ông là người đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên được Nhà nước xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân vào năm 2019.

Then ông Lai

Nhiều người dân gọi ông Lưu Xuân Lai là Then ông Lai. Không phải tiện miệng gọi mà đây là một danh xưng đáng kính trong cuộc sống tinh thần của đồng bào người Tày Định Hoá. Ông thường xuyên được đồng bào mời đến nhà thực hành các nghi lễ cầu an, cầu phúc và cầu cho người chết về được thế giới bình yên. Ông cho biết, Then cổ là phương tiện để người thầy thực hành nghi lễ tâm linh. Quá trình thực hiện phải tay đàn, chân xóc nhạc, miệng hát. Then có 2 tàng là tàng bốc và tàng nặm (đường cạn và đường nước). Tàng bốc là đường lên Ngọc Hoàng; tàng nặm là đường cho người âm đi thuyền sang bờ bên kia… Trong then còn có hát chữa bệnh, gồm hát: Hái hoa, Nối số, Giải hạn và then Tiêu hao tàn (dành cho người chết)... Then vui có các bài: Vào nhà mới, Đám cưới, Chúc thọ, mừng sinh nhật…

“Với tôi, còn thở là còn then” - Anh 1

 Nghệ nhân Lưu Xuân Lai (phải)

Ngồi bên hiên nhà với cây đàn tính, vừa trò chuyện, thỉnh thoảng lại búng tay vào dây đàn như một thói quen, ông kể: Tôi cất tiếng khóc chào đời ở xã Linh Thông, vùng đất ba bề, bốn bên là núi đá, nhưng các triền ruộng eo hẹp trong lũng núi lại cho con người thứ gạo đặc sản bao thai và nếp cái Hoa vàng ngon nức tiếng không đâu sánh được. Gạo ấy nuôi tôi lớn về thể xác, còn tinh thần thì từ thuở “ầu ơ… à ơi… ru con con ngủ cho ngoan, để mẹ đi nương, đi cấy, mẹ sẽ bắt muỗm về cho con… à ơi con ngủ…” - Then hát ru. Ông cất tiếng hát rất khẽ, đủ để tôi nghe. Ông không thừa hưởng hát then cổ từ bố, mà từ ông nội của mình. Năm 3 tuổi, ông bi bô tập nói, cũng là lúc ông nội dạy cho câu then cổ. Năm 10 tuổi, ông đã quen với nhiều đường then. Và “mon men” bước vào làng Then như một định mệnh bằng việc đi theo giúp ông nội làm lễ. Nhưng đêm then bên bếp lửa sàn như men ấm, đầy thi vị ngọt ngào ngấm vào huyết quản. 15 tuổi, ông thành thạo các đường then. Tuy chưa làm thầy, nhưng ông có thể hát phụ ông nội thâu đêm, suốt sáng.

“Noọng ơi noọng đin đẩy nắc ca/Pù pài khau khuổi đông lộc noọng”… Tạm dịch: “Em ơi vùng đất thắm tình/Núi rừng xanh thắm chim ca hót”… Lời then mượt như thảm cỏ ngân vang trên nền tính tẩu. Âm điệu rộn ràng, vui tươi khiến người nghe liên tưởng mình đang đứng trước một dòng suối mát lành, róc rách chảy giữa lòng đại ngàn Việt Bắc. Chủ nhân của câu hát đã ngoài tuổi 70, nhưng âm điệu rành rẽ, giòn tươi khiến người nghe cảm nhận sự ấm áp, truyền cảm từ thẳm sâu lòng người.

Ông sinh ra là để dành cho then và tiếng tính. Và lời then, tiếng tính nhờ ông mà bay bổng, ngân xa. Nhiều người mê then đã nói về ông như thế. Quả thật, từ lúc lẫm chẫm tập đi ông đã thích cầm cây đàn tính. Khi bập bẹ tập nói đã học lời then - lời của trời. Và then vận vào cuộc đời ông như duyên, như nợ. Bởi suốt mấy mươi năm đi qua đời người, chưa một ngày ông không nghĩ đến then. Cây đàn tính luôn theo sát bên người, hễ có cơ hội là thể hiện lời then, vừa giãi bày tâm tư tình cảm, vừa làm người nghe khuây khỏa, quên đi phiền muộn.

Nhưng cũng chính ông, một nghệ nhân giữa làng then cũng phải đau khổ vì then. Ông kể: Ngày còn trẻ, nhiều cô gái mê hát then đã tìm đến nhà xin trọn đời làm phu thê. Rồi tôi chấm một trong số họ, được ít năm thì cô gái ấy sinh con cho người làng bên. Một “nàng then” khác đến, say khướt vì then mà làm vợ tôi, nhưng lòng người không đo được, cô gái ấy lại có con với người đàn ông khác. Tôi thành 2 lần dang dở đò đời. Những lúc buồn nản, chán chường nhất thì cây đàn tính và câu hát then lại là bạn thủy chung dắt tôi vượt qua những mặc cảm, sống cao thượng, không chấp nhặt chuyện luyến ái. Tôi giải phóng cho họ, đến năm 1990 thì gặp cô Lộc Thị Thìn ở Đồng Uẩn, xã Phúc Chu. Cô Thìn kém tôi 2 tuổi, duyên số bện chúng tôi lại thành một cặp. Chúng tôi có 1 con gái, cháu thích hát then, và vợ tôi luôn khuyến khích tôi thắp lại ngọn đuốc then giữa quê hương Định Hoá. Cũng năm đó tôi chuyển về quê vợ ở Đồng Uẩn để thực hiện tâm huyết gầy tạo ngọn lửa then.

Người thầy của nghìn học trò

Ông nói ôn tồn: Tôi được tiếp cận với lời then từ nhỏ, nhưng lắm lúc thấy bí, chưa thoát được nghĩa của câu then cổ, nên đã tìm đến các cụ cao niên trong vùng xin “tầm sư học đạo”. Các thầy then truyền dạy cho tôi nhiều bài cổ trong thực hành nghi lễ là cụ Lưu Viết Thanh, cụ Nguyễn Văn Lành và cụ Ma Đình Tài. Hiện cụ Thanh, cụ Lành và cụ Tài đều đã về với thế giới người hiền, nhưng câu hát then, giai điệu đàn tính và một số nghi lễ tâm linh được lưu lại trong tôi.

Có những đêm không ngủ, ông ngồi bần thần vì lo lắng đến một ngày nào đó, lời cây đàn tính và lời then bị mai một, mất đi bản sắc gốc. Sớm hôm sau, lúc mặt trời vừa nhô lên khỏi mỏm ngọn núi đá trước nhà, ông mang dằn vặt của mình kể lại với các cụ cao niên trong vùng. Nhiều cụ tâm đắc, khuyến khích ông chủ động truyền dạy lại các ngón đàn tính và kỹ năng nhấn nhá nhả lời then cho lớp trẻ. Được sự động viên của già làng và chính quyền địa phương, ông quyết định mở lớp dạy hát then, chơi đàn tính tại nhà mình vào các buổi tối trong tuần. Đó là vào mùa xuân năm 2000, có 10 cháu đến nhà ông, tập cầm đàn tính, làm quen với khuông nhạc và ríu rít bên ông học hát then. Ông kể: Tối nào tôi cũng ăn sớm, pha sẵn ấm trà, đun thêm bình nước lọc đợi học trò. Có ông bố, bà mẹ đưa con đến, ngồi đợi, câu then, tiếng tính ngấm vào máu, vậy là trở thành học viên từ khi nào không hay. Có hôm học viên phải ngồi ra ngoài hè mới đủ chỗ.

Tiếng lành đồn xa, nhiều người trong, ngoài xã hay tin đã cất công tìm đến nhà ông xin được làm học trò. Có trò mới 12 tuổi, có trò hơn 60 tuổi, ông bảo: Chẳng sao, là người Tày, học tiếng hát của người Tày thì đó là điều tốt, nên làm… Sau một thời gian ngắn mở lớp, ông nhận ra có nhiều học trò trẻ tuổi không biết nói tiếng Tày, nên tự phiên lời bài hát sang tiếng phổ thông, khi thuộc lời mới dạy lại bằng tiếng Tày. Bằng cách truyền đạt này, học trò thuộc lời nhanh, đồng thời cũng dễ dàng học được tiếng của dân tộc mình. Ông kiên trì làm người “truyền giáo” những nét đẹp văn hoá của dân tộc Tày cho thế hệ trẻ mà không mảy may nhận một đồng tiền công. Ông dạy hát then, dạy chơi đàn tính, chơi xóc nhạc, chừng 20 ngày theo học thì hầu hết học trò đã thuộc đường then cơ bản. Chính vì thế mà ngôi nhà ông ở được ví là nơi hội tụ của làng then, là một ban nhạc then đầm ấm. Ông thủ thỉ: Lời hát được tôi lấy ra từ gan, phổi; còn đàn tính tôi làm để trang bị cho học trò. Tôi thấy vui vì bản thân đang làm một công việc có ích, đúng với chủ trương, đường lối của Đảng.

Tạo thuận lợi cho tâm huyết của ông có đất dụng võ, năm 2011 huyện Định Hoá mời ông tham gia các lớp truyền dạy hát then, đàn tính với ý nghĩa bảo tồn, phát huy giá trị nét đẹp văn hoá của dân tộc Tày. Ông nhận lời và chính thức trở thành người thày dạy hát then được Nhà nước bảo trợ. Đến nay, ông đã dạy hát then, chơi đàn tính cho người mê then ở 24/24 xã, thị trấn và tất cả các trường trung học, tiểu học và học sinh đang theo học tại 2 trường THPT trên địa bàn huyện. Đã có hơn 1.000 người nhờ ông mà biết hát then, chơi đàn tính.

Ông trở nên nổi tiếng, được nhiều người biết đến còn vì có đôi bàn tay khéo léo. Ông đã làm được hàng nghìn cây đàn tính để bán cho du khách trong nước và quốc tế. Phần lớn đàn tính ông làm là để phục vụ cho người mê hát then. Nhiều câu lạc bộ hát then trong, ngoài tỉnh đặt mua liền lúc cả chục cây đàn. Ông tự hào: Trong 2 năm 2016, 2017, tôi được cử làm già làng của làng Tày tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam ở Ðồng Mô (Sơn Tây, Hà Nội). Ở đó, tôi có dịp gặp gỡ nhiều nghệ nhân các dân tộc trên cả nước và du khách nước ngoài. Tôi học được thêm nhiều điều, và thấy mình còn phải cố gắng hơn để đóng góp, cống hiến sức lực của mình cho làng Then Việt Nam trường tồn, phát triển. Với riêng tôi, còn thở thì còn then. 

 PHẠM NGỌC CHUẨN

Ý kiến bạn đọc