Chợ quê chắp nối
VHO- Rồi run rủi đời tôi cũng có chút gắn với chợ. Đó là vì tôi nghiên cứu văn hóa dân gian. Thầy Trần Quốc Vượng dạy: “Thăm em xem chợ. Người xưa nói rồi. Các ông các bà đi vùng nào, cứ rẽ vào chợ cho cháu một cái. Nó phơi ra cả đấy, từ ăn mặc nói năng sản vật giao thương, từ đó mà ra cả”. Đến đâu, tôi cũng đối chiếu với cái chợ xưa ở quê mình để mà hiểu nó.

Thầy tôi hơ hai tay trước bếp, mắt lim dim: “Mẹ mi ạ! Tôi đợt này lên lương lần hai, được 47 đồng tư. Họ còn nhắm đưa lên phó phòng Cung tiêu. Ngày mai mẹ chịu tốn, biện con gà, mấy anh lãnh đạo nhà máy về chơi nhà mình. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn”. Đó là cuối năm 1960.
Năm đó tôi năm tuổi, và cũng được lần đầu theo mẹ đi chợ. Sáng ra tôi thức giấc, nắng mùa đông tia qua rèm thưa. Mùi rượu của mấy bà xóm bãi đi chợ thoang thoảng từ ngoài đường, cách hẳn một quãng nương, bay vào. Ngày xưa sao mà rượu thơm thế.
Mẹ tôi nách cái mủng lạc khô, vai vác bó mía đỏ, tôi xách chiếc bị lác chạy theo, hãnh diện với thằng em đang dụi mắt.
Sau khi rẽ vào cửa hàng mậu dịch cân lạc lấy mấy đồng, gửi mía ở hàng trầu cau bà ngoại, mẹ tôi ra đầu bến ngồi xuống trước hàng nồi niêu. Bà chăm chú chọn một ông bình vôi mới, có miệng có tai. Tôi nhìn vào len lét vì thấy nó giống cái sọ người, liền lảng ra vểnh tai nghe chiếc loa oang oang treo trên ngọn sào quán thịt chó ông cậu họ, đang ngâm bài “Ba mươi năm đời ta có Đảng”. Nghe cả năm rồi mà không chán. Tôi thuộc cả bài thơ dài khi mới học vỡ lòng.
Mẹ tôi trải tấm khăn len vuông lên miệng mủng rồi trang trọng đặt ông bình vôi vào, nhẹ nhàng gói lại. Tấm khăn có tua len, màu nâu đỏ, đó là quà một ông cố từ Thái Lan hồi hương tặng mẹ. Mẹ quý nên chưa một lần trùm. Mẹ nâng đội cái mủng lên đầu đi về hàng bà ngoại, gác lên mái lều và dặn: “Con trông ông bình vôi kẻo họ lấy mất cái khăn”. Muốn chạy chơi nên tôi nói với bà: “Bà đặt bình vôi cạnh rồi trông hộ cháu với!”. Bà bảo: “Cha tổ mi. Ông bình vôi phải để chỗ cao. Ông thần đấy. Khi rước về phải đội đầu, không được nách ngang hông, uế tạp. Nghe chưa!”. Thế là tôi chôn chân ở đó.
Chợ quê tôi trên bến dưới đò, là chợ cho cả vùng thuộc hai tỉnh và đến bốn năm huyện. Ngày nào cũng họp, không theo phiên như các chợ chung quanh. Măng tươi, mộc nhĩ, chè xanh, củi đuốc, lá dong, chổi đót từ trên thượng xuống. Cá mắm tôm cua từ hội thống lên. Đồ sứ sành chum vại theo thuyền từ bắc vô. Đường phèn, hương phụ (củ cỏ gấu) không biết đường nào từ trong Quảng ra. Quê tôi chỉ lạc vừng ngô khoai rau diếp hành tỏi là nhiều thôi.

Đông chợ như sôi, bà ngoại thoăn thoắt lấy cái đũa tre bẹt hơn cả đũa bếp khuyếch vôi trét lá chuối tươi gói cho khách. Tiếng cười chào rôm rả. Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi mà. Có bà còn xoa đầu tôi: “Cháu nội cố Tổng Nho to rồi hầy”.
Chợ gọi là chợ Tràng. Thầy tôi nói, vì xưa quê mình là trấn sở, có trường thi nên thành địa danh là Tràng. Trấn thì chuyển ra chợ Vĩnh vài trăm năm rồi nhưng vẫn giữ được cái danh. Cả vùng có câu: “Đi quanh đi quắt, không quên nước dắt chợ Tràng”. Dắt giống con hến nhưng nhỏ như móng tay út trẻ em, vỏ mỏng, sống nước lợ. Đãi cho ra bữa dắt thật lâu công. Thường là đò “phường thượng” xuôi sông đi cào dắt, về nấu đãi rồi bán ở chợ. Ruột dắt thì gói lá mùng, nước thì đem ấm tích đi mua. Gần trưa bán không hết, mẹ tôi lúc bí thường chạy vội qua chợ xin nước về làm canh, bỏ tí hành răm, mắm tôm là có nồi canh ăn với cà mặn. Gần chợ nên người làng tôi nửa nông tang nửa chợ búa. Mau mồm mau miệng và cái tài nói khích, nói chọc, nói vần vè thì ít nơi bằng. Thời thuộc Pháp, nhiều người ra chợ Vĩnh mở quán ăn hoặc làm đầu bếp cho Tây, về làng ra vẻ là người thị thành lắm. Họ như thuộc đẳng cấp khác.
Rồi chiến tranh phá hoại tháng 8 năm 1964 ào đến một giữa trưa. Bến đò là nơi trung chuyển vào Nam, dần thành mục tiêu đánh phá ác liệt. Đất lở chợ tan. Chợ chuyển sang làng bên cạnh và họp từ 4 đến 5 giờ sáng, nhá nhem, vội vàng. Cả nhà đói. Thầy tôi lĩnh lương đưa về được hai chục đồng. Sáng ra, tôi ngủ dậy, ngửi thấy mùi cơm là lạ. Cả nhà xúm vào cái mươn. Thầy tôi cầm bát cơm trắng muốt ngửi ngửi, rồi nói: - “Đổ hết đi! Toàn mùi DDT. Ăn chết cả đấy. Đi chợ thế này à”. Trưa tôi ở lớp về, thấy chị tôi đứng khóc sau nhà. Tôi hỏi thì chị nói: - “Thầy bắt chị mai đi bán lại 5 lô gạo ấy! Nhỡ người ta chết thì sao? Không bán đi thì làm sao có ăn đây?”. Mẹ tôi đi chặt mía về hỏi chuyện. Bà thở dài rồi nói: “Để đó, mẹ lo cho”. Rồi bà đội nón đi sang nhà bà ngoại, chắc là để vay tiền. Số gạo ấy, bà nấu cho lợn ăn thử, nó không sao cả. Nhưng cả nhà cũng không dám ăn. Người nhịn cho lợn vậy.
Nhà nghiên cứu NGUYỄN HÙNG VĨ

RSS