Văn hóa Đảng - Nền tảng quan trọng của văn hóa công vụ trong kỷ nguyên mới
VHO - Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt chú trọng xây dựng văn hóa đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, đây chính là một biểu tượng cao về văn hóa của Đảng. Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, với yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động tích cực hội nhập quốc tế, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng văn hóa Đảng, văn hóa công vụ của cán bộ, đảng viên, công chức càng có vị trí, ý nghĩa quan trọng…

Văn hóa Đảng và những yêu cầu đặt ra với việc xây dựng văn hóa Đảng và văn hóa công vụ trong giai đoạn hiện nay
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, lần đầu tiên chủ trương “xây dựng Đảng văn minh” được xác định như một nhiệm vụ chiến lược, có tính hệ thống. Đây không chỉ là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là bước phát triển mới về nhận thức và hành động trong công tác xây dựng Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Đảng không thể chỉ nói đến tổ chức, cán bộ, kiểm tra, giám sát hay kỷ luật. Một yêu cầu sâu xa hơn là xây dựng văn hóa Đảng – một hệ giá trị chính trị, đạo đức và ứng xử làm nền tảng để mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện đúng chức trách, giữ gìn phẩm chất, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Văn hóa Đảng là tổng hòa những giá trị tư tưởng, đạo đức, tổ chức và phong cách làm việc mang bản sắc riêng của Đảng Cộng sản Việt Nam, được hình thành và hun đúc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng.
Văn hóa Đảng trước hết được hình thành từ văn hóa lãnh đạo. Trong đó, người đứng đầu có ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp làm việc, tinh thần trách nhiệm, thái độ ứng xử và kỷ luật tổ chức của cơ quan, đơn vị. Thực tiễn cho thấy, nơi nào người đứng đầu thực sự nêu gương, sâu sát, quyết liệt, công tâm, dân chủ, nói đi đôi với làm thì ở đó tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, phối hợp và kỷ luật trong tổ chức thường được nâng lên. Ngược lại, nếu người đứng đầu thiếu gương mẫu, buông lỏng quản lý, thiếu kiểm tra hoặc xử lý công việc thiếu nhất quán thì dễ phát sinh tâm lý né tránh, nể nang, ngại va chạm, đùn đẩy trách nhiệm. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh cần phải được cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực, nhất là trong việc thực thi công vụ.
Trong thời gian qua, Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều quy định mới về xây dựng Đảng như: Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9.5.2024 của Bộ Chính trị xác lập hệ thống chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam tiếp tục đặt văn hóa, con người vào vị trí nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển; Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 13.7.2026 của Bộ Chính trị chuyển mạnh yêu cầu từ “học tập” sang “học tập, thực hành” tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh…
Tại Hội nghị Trung ương 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành thảo luận, thông qua 3 Nghị quyết chuyên đề gồm: (i) Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới; (ii) Nghị quyết về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới; (iii) Nghị quyết về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đây vừa là cơ sở, nền tảng, vừa là động lực để các giá trị văn hóa Đảng được cụ thể hóa thành hành vi, quy trình và trách nhiệm thực thi công vụ trong thực tiễn.
Từ nền tảng ấy, văn hóa công vụ không thể là một “lớp áo” khoác bên ngoài nền hành chính. Nó phải là sự biểu hiện cụ thể, sinh động của văn hóa Đảng trong hoạt động công quyền của bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Văn hóa công vụ hiểu một cách khái quát, chính là sự cụ thể hóa của văn hóa Đảng, là hệ thống các chuẩn mực, quy tắc, nguyên tắc nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi, cách ứng xử, chức trách, bổn phận, nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ. Văn hóa công vụ có tầm quan trọng đặc biệt đến việc xây dựng nền hành chính nhà nước liêm chính, trong sạch, vững mạnh, hiện đại.
Từ mối quan hệ giữa văn hóa Đảng và văn hóa công vụ…
Văn hóa công vụ là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Việc rèn luyện đạo đức, nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung trọng tâm của chương trình cải cách hành chính. Điều đó được thể hiện trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn coi vấn đề xây dựng Đảng trong đó vấn đề xây dựng, giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ được coi là một trong những vấn đề then chốt.
Xét về mặt bản chất thì: Văn hóa Đảng tạo nền tảng giá trị và trách nhiệm chính trị → văn hóa lãnh đạo chuyển giá trị thành phương thức tổ chức → văn hóa công vụ chuyển thành hành vi thực thi → chất lượng phục vụ phản ánh kết quả ra bên ngoài. Văn hóa Đảng phải được thể hiện không chỉ trong sinh hoạt Đảng mà còn trong tác phong, phương pháp lãnh đạo, quan hệ công tác, trách nhiệm nêu gương và hành vi công vụ hằng ngày; văn hóa công vụ phải trở thành sự cụ thể hóa các giá trị của Đảng trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ. Đối với cán bộ, công chức đồng thời là đảng viên, chuẩn mực chính trị - đạo đức của người đảng viên cần được chuyển hóa thành hành vi công vụ cụ thể.
Trong nhiều văn bản, Đảng ta luôn nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín; đề cao trách nhiệm, kỷ luật, liêm chính, nêu gương và phục vụ Nhân dân. Đặc biệt, Quy định số 144-QĐ/TW năm 2024 đã xác lập các chuẩn mực đạo đức cách mạng như yêu nước, tôn trọng Nhân dân, cần, kiệm, liêm, chính, trách nhiệm, đoàn kết, kỷ luật và nêu gương. Ở cấp độ pháp luật, các yêu cầu về văn hóa công vụ được thể hiện trong nhiều nhóm quy định về nghĩa vụ, đạo đức và trách nhiệm của công chức; liêm chính và kiểm soát xung đột lợi ích; công khai, minh bạch; dân chủ, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải trình. Luật Cán bộ, công chức năm 2025 tiếp tục xác định nghĩa vụ, đạo đức, trách nhiệm và chuẩn mực của công chức trong thực thi công vụ; cùng với đó các quy định về tuyển dụng, sử dụng, kỷ luật và đánh giá công chức gắn quản lý đội ngũ với chất lượng, kết quả.
Đối với hệ thống hành chính nhà nước, quá trình cụ thể hóa chuẩn mực được thể hiện rõ qua Quy chế văn hóa công sở năm 2007, Chỉ thị số 26/CT-TTg năm 2016 về tăng cường kỷ luật, kỷ cương và đặc biệt là Quyết định số 1847/QĐ-TTg năm 2018 phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ. Đề án đã xác định tương đối hệ thống các chuẩn mực về tinh thần, thái độ làm việc; giao tiếp, ứng xử; đạo đức, lối sống và trang phục, hướng tới xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả và phục vụ Nhân dân.
…đến nội hàm văn hóa công vụ trong kỷ nguyên mới
Ngày 13.7.2026, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị vừa kế thừa những nội hàm của việc học tập và làm theo Bác, vừa bổ sung “phương pháp Hồ Chí Minh” như là một thành tố quan trọng, gắn việc học tập với nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu quả quản trị; nâng cao tính tự giác, thường xuyên trong việc thực hành đạo đức, phương pháp và phong cách làm việc dân chủ, khoa học, hiệu quả, sâu sát thực tiễn, gần dân, sát dân, vì dân; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.
Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị không dừng lại ở yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên học tập những lời dạy của Bác mà đòi hỏi phải đưa tư tưởng Hồ Chí Minh thành nền tảng tư duy; đưa đạo đức Hồ Chí Minh thành chuẩn mực ứng xử; đưa phương pháp Hồ Chí Minh thành phương pháp lãnh đạo, quản lý; đưa phong cách Hồ Chí Minh thành văn hóa công vụ và phong cách phục vụ Nhân dân.
Lần đầu tiên, tại Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị, việc học tập và làm theo Bác được nhấn mạnh phải khẩn trương “thể chế hóa”. Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra cao hơn là xây dựng cơ chế để việc thực hành trở thành một phần của hệ thống quản trị quốc gia; để đạo đức công vụ không chỉ là lời kêu gọi mà được bảo đảm bằng pháp luật; để phong cách gần dân, trọng dân, vì dân trở thành tiêu chuẩn bắt buộc trong hoạt động công vụ và để mọi cán bộ, đảng viên đều chịu sự giám sát bằng những tiêu chí minh bạch, cụ thể, để kết quả đánh giá thực thi công vụ phải thực chất, định lượng chứ không định tính.
Đây là bước chuyển mình sâu sắc từ giáo dục nhận thức sang kiến tạo năng lực hành động như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo: “Học và làm theo Bác phải trở thành thực hành thường xuyên, thể hiện ở bản lĩnh trước khó khăn, tinh thần phục vụ Nhân dân, nói đi đôi với làm và phương pháp làm việc dân chủ, khoa học, sát thực tiễn”. Có thể nhận thấy, nội hàm Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị chính là những chuẩn mực, hệ giá trị của văn hóa công vụ trong giai đoạn mới.
Trong kỷ nguyên mới, văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức chính là khát vọng cống hiến; tinh thần yêu nước, tính nhân văn; sự liêm chính, chí công vô tư; tính trung thực; sẵn sàng bảo vệ lẽ phải, bảo vệ công lý; thượng tôn pháp luật, tôn trọng Nhân dân; thực hành dân chủ; lấy chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ làm thước đo mức độ hoàn thành nhiệm vụ; đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của thời đại số và hội nhập quốc tế. Cán bộ, công chức phải ý thức đầy đủ về trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ của mình trong quá trình hoạt động công vụ, trong mối quan hệ với cơ quan, tổ chức, công dân.
Trong những năm qua, xây dựng và thực hành văn hóa công vụ có sự gắn kết rõ hơn với các hoạt động quản lý và vận hành của nền hành chính thay vì được xem là một nội dung riêng biệt về đạo đức, tác phong hay giao tiếp, ứng xử. Mối liên hệ này thể hiện rõ trong quản lý đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách hành chính; chuyển đổi số; thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; cũng như trong việc sử dụng kết quả đánh giá sự hài lòng của người dân để phản ánh chất lượng phục vụ. Đây là chuyển biến quan trọng, bởi văn hóa công vụ chỉ có thể trở thành thực chất khi các giá trị trách nhiệm, chuyên nghiệp, kỷ cương, liêm chính và phục vụ được tích hợp vào cơ chế quản lý và quá trình thực hiện công việc hằng ngày. Một trong những biểu hiện sinh động của thực hành văn hóa công vụ trong các cơ quan hành chính nhà nước chính là công tác dân vận chính quyền thông qua các mô hình “dân vận khéo”.
Trong giai đoạn hiện nay, hệ thống hành chính nhà nước đang tiếp tục được đổi mới theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Điều này không chỉ tác động đến cơ cấu tổ chức và phương thức thực hiện nhiệm vụ mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới về thái độ, hành vi, tác phong và phương thức làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, văn hóa công vụ gắn chặt hơn với chất lượng hoạt động của cơ quan hành chính và chất lượng phục vụ người dân. Phương thức làm việc của cơ quan hành chính chuyển từ xử lý công việc chủ yếu trên môi trường truyền thống sang kết hợp và dựa nhiều hơn trên môi trường số. Những thay đổi này tạo điều kiện để nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm trong thực thi công vụ, cùng với đó, cũng làm cho hành vi và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức có khả năng được theo dõi và đánh giá rõ hơn.
Đáng chú ý, cách tiếp cận về văn hóa công vụ đã dần mở rộng từ yêu cầu “ứng xử đúng chuẩn mực” sang “thực thi công vụ có kết quả”. Các biểu hiện như tuân thủ pháp luật và kỷ luật hành chính, công khai hồ sơ, xử lý công việc kịp thời, không trì trệ, không gây phiền hà, có năng lực chuyên môn và kỹ năng số đều được xem là những thành tố của văn hóa công vụ. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển văn hóa công vụ từ phạm trù chủ yếu mang tính đạo đức, ứng xử sang một nội dung của quản trị công vụ.
Làm thế nào để lan tỏa hơn nữa văn hóa Đảng vào việc xây dựng văn hóa công vụ?
- Thứ nhất, cấp uỷ, người đứng đầu phải nắm chắc, bám sát nội dung chỉ đạo, định hướng của cấp trên và đặc điểm địa phương, đơn vị; phát huy vai trò hạt nhân trung tâm, gương mẫu, tự giác nêu gương để cán bộ, đảng viên và Nhân dân noi theo; thực hiện tốt các Quy định của Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp trong thực thi công vụ. Nghiên cứu hoàn thiện hệ giá trị và cụ thể hóa thành chuẩn mực hành vi công vụ. Điểm quan trọng không phải bổ sung thêm nhiều giá trị mà là xác định đối với từng giá trị những hành vi cần thực hiện, hành vi không được thực hiện và kết quả cần đạt, bảo đảm dễ hiểu, dễ thực hành, dễ quan sát và đánh giá.
- Thứ hai, chú trọng xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, đủ sức gánh vác nhiệm vụ trước yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, trách nhiệm gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm trên cơ sở có lý, có tình nhằm nâng cao uy tín của các cấp ủy, chính quyền và củng cố niềm tin của Nhân dân với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát và dân thụ hưởng”. Mỗi cán bộ phải, công chức phải có chuyển biến cụ thể; làm đều, làm thật, làm đến cùng, đúng vai, thuộc bài vì cơ sở. Theo đúng tinh thần chỉ đạo của đồng chí Bí thư Đảng ủy, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng: “Biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả, nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm có hiệu quả”.
- Thứ ba, coi trọng lựa chọn nội dung trọng tâm, khâu đột phá, giải quyết dứt điểm những vấn đề nổi cộm, bức xúc trong Nhân dân để xây dựng, củng cố niềm tin; tích hợp văn hóa công vụ vào quản lý cán bộ, công chức và quản trị công việc. Các yêu cầu về văn hóa công vụ cần được gắn với bố trí, sử dụng, đào tạo, đánh giá, khen thưởng (biểu dương, tôn vinh các điển hình tiên tiến trong thực hiện đạo đức công vụ) và xử lý trách nhiệm. Đánh giá công chức cần xem xét đồng thời kết quả thực hiện nhiệm vụ – hành vi thực thi công vụ – phản hồi của các chủ thể có liên quan; đối với vị trí trực tiếp phục vụ người dân, cần khai thác phù hợp dữ liệu về tiến độ, chất lượng giải quyết công việc, phản ánh, kiến nghị và mức độ hài lòng. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong kiến tạo môi trường văn hóa, văn minh công sở. Việc giao và kiểm soát công việc cần bảo đảm 6 rõ (rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền); qua đó chuyển giá trị “trách nhiệm” thành yêu cầu cụ thể trong quản trị công việc.
- Thứ tư, gắn thực hành văn hóa công vụ với cải cách hành chính, chuyển đổi số và chất lượng phục vụ Nhân dân. Cần chuyển từ chú trọng “thực hiện đúng thủ tục” sang vừa đánh giá chất lượng, tiến độ vừa đánh giá trải nghiệm của người dân. Các dữ liệu về tỷ lệ giải quyết đúng hạn, số lần yêu cầu bổ sung hồ sơ, phản ánh về thái độ phục vụ, kết quả xử lý phản ánh, kiến nghị và mức độ hài lòng cần được khai thác để nhận diện những vấn đề về trách nhiệm và văn hóa phục vụ. Trong môi trường số, cần bổ sung và thực hành các chuẩn mực về trách nhiệm số, đạo đức số, bảo vệ dữ liệu, chia sẻ thông tin, phối hợp trên môi trường điện tử và trách nhiệm khi sử dụng công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo trong thực thi công vụ.
- Thứ năm, hình thành cơ chế đo lường, phản hồi và cải tiến văn hóa công vụ thường xuyên. Nghiên cứu kết nối và khai thác các nguồn dữ liệu hiện có như SIPAS, PAR INDEX, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, phản ánh - kiến nghị, thanh tra, kiểm tra, khiếu nại – tố cáo, phòng, chống tham nhũng, kỷ luật và đánh giá công chức. Kết quả theo dõi phải được phản hồi trở lại để chấn chỉnh hành vi, đào tạo, cải tiến quy trình, đánh giá công chức và xác định trách nhiệm của người đứng đầu.
- Thứ sáu, tăng cường công tác tuyên truyền, đào tạo và chia sẻ kinh nghiệm, chuyển từ phổ biến quy định sang trao đổi tình huống, chia sẻ cách làm hiệu quả và kinh nghiệm xử lý các vấn đề phát sinh trong thực thi công vụ. Các mô hình, điển hình thực hành tốt cần được phát hiện, lựa chọn và tổng kết trên cơ sở kết quả thực tế, tránh chỉ biểu dương hình thức. Cần khai thác dữ liệu thực thi công vụ, phản hồi của người dân, kết quả đánh giá và các kênh phản ánh để nhận diện những cách làm hiệu quả cũng như những vấn đề cần điều chỉnh.
Bước vào nhiệm kỳ mới, yêu cầu xây dựng Đảng đặt trong một tầm nhìn cao hơn. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Một Đảng vững mạnh không chỉ bởi có tổ chức chặt chẽ, mà còn bởi có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ để biến đường lối thành hiện thực. Một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ bởi có hệ thống pháp luật nghiêm minh, mà còn bởi pháp luật được thực thi bởi những con người có trách nhiệm. Một nền công vụ hiện đại không chỉ bởi công nghệ, chuyển đổi số, mà còn bởi văn hóa của những người vận hành nền công vụ ấy. Lan tỏa văn hóa công vụ cần được thực hiện thông qua một cơ chế thường xuyên, trong đó các giá trị, chuẩn mực được chuyển hóa thành hành vi, được ghi nhận, chia sẻ và nhân rộng trong toàn hệ thống. Và trước tiên, vai trò nêu gương của người đứng đầu, cán bộ, đảng viên và đội ngũ lãnh đạo, quản lý luôn luôn có ý nghĩa quan trọng trong hình thành môi trường văn hóa tại cơ quan, đơn vị.

RSS