Xây dựng văn hóa số trong hệ thống chính trị

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

VHO - Triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia không chỉ là nhiệm vụ về công nghệ, hạ tầng hay phần mềm. Sâu xa hơn, đó là cuộc chuyển đổi về tư duy phát triển, phương thức lãnh đạo, văn hóa quản trị và trách nhiệm phục vụ nhân dân.

 Từ phong trào bình dân học vụ số đến yêu cầu xác lập kỷ luật dữ liệu trong toàn hệ thống chính trị, điều cần được nhấn mạnh là: Chuyển đổi số chỉ thành công khi trở thành một giá trị văn hóa mới trong hoạt động công vụ và đời sống xã hội.

Xây dựng văn hóa số trong hệ thống chính trị - ảnh 1
Đoàn viên hướng dẫn người dân sử dụng máy vi tính. Ảnh: B.LINH

Bình dân học vụ số, nền tảng con người của chuyển đổi số

Trong lịch sử dân tộc, “bình dân học vụ” từng là một phong trào khai sáng lớn lao. Đó không chỉ là việc xóa mù chữ, mà còn là quá trình trao cho nhân dân năng lực tiếp cận tri thức, làm chủ cuộc sống và tham gia xây dựng đất nước. Hôm nay, khi bước vào kỷ nguyên số, “bình dân học vụ số” cũng cần được hiểu với tinh thần ấy.

Chuyển đổi số không thể chỉ là công việc của chuyên gia công nghệ, trung tâm dữ liệu hay những hệ thống phần mềm hiện đại. Nếu người dân chưa biết sử dụng dịch vụ công trực tuyến, nếu cán bộ chưa hình thành thói quen làm việc trên môi trường số, nếu mỗi cơ quan vẫn coi dữ liệu là tài sản riêng của mình, thì chuyển đổi số sẽ khó đi vào thực chất. Công nghệ có thể được đầu tư nhanh, nhưng văn hóa sử dụng công nghệ, năng lực làm chủ công nghệ và kỷ luật vận hành công nghệ lại cần một quá trình bền bỉ, có tổ chức và có chiều sâu.

Vì vậy, phong trào bình dân học vụ số cần được xem là bước đi căn bản để triển khai Nghị quyết 57. Đó là quá trình giúp mỗi người dân có năng lực số cơ bản; mỗi cán bộ, công chức, viên chức có khả năng làm việc trong môi trường số; mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị có thể vận hành dựa trên dữ liệu, thay vì chỉ dựa vào giấy tờ, kinh nghiệm cá nhân hay sự chia cắt thông tin giữa các cấp, các ngành.

Điều quan trọng là bình dân học vụ số không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn thao tác kỹ thuật. Nếu chỉ dạy người dân cách đăng nhập một tài khoản, nộp một hồ sơ trực tuyến, sử dụng một ứng dụng, chúng ta mới làm được phần ngọn. Phần sâu hơn là phải hình thành niềm tin số, thói quen số và ý thức số. Người dân cần thấy rằng chuyển đổi số giúp họ tiết kiệm thời gian, giảm chi phí, tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn, đồng thời dữ liệu cá nhân của họ phải được bảo vệ an toàn, minh bạch và đúng mục đích.

Với đội ngũ cán bộ, bình dân học vụ số càng có ý nghĩa đặc biệt. Một cán bộ không thể phục vụ tốt nhân dân nếu thiếu kỹ năng số căn bản. Một cơ quan không thể quản trị tốt nếu dữ liệu không được cập nhật, chuẩn hóa, kết nối và khai thác. Một chính quyền không thể gần dân hơn nếu công nghệ chỉ dừng ở khẩu hiệu, còn người dân vẫn phải đi lại nhiều lần, khai báo nhiều lần, nộp đi nộp lại những thông tin mà Nhà nước đã có. Từ góc nhìn văn hóa, chuyển đổi số trước hết là chuyển đổi thói quen. Từ thói quen làm việc trên giấy sang làm việc trên môi trường số. Từ thói quen giữ thông tin cục bộ sang chia sẻ dữ liệu vì lợi ích chung. Từ cách xử lý thủ tục dựa nhiều vào quan hệ, kinh nghiệm và giấy tờ sang quy trình minh bạch, có thể kiểm tra, giám sát. Từ tâm lý ngại thay đổi sang tinh thần học tập suốt đời. Chính ở điểm này, bình dân học vụ số mang ý nghĩa văn hóa rất sâu sắc. Nó không chỉ tạo ra người dùng công nghệ, mà còn góp phần hình thành công dân số, cán bộ số, tổ chức số. Đó là nền tảng con người của một nền quản trị hiện đại, nhân văn và hiệu quả.

Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nhưng mọi đột phá, xét đến cùng, đều phải đi qua con người. Con người là chủ thể sáng tạo, là người vận hành hệ thống, là người thụ hưởng kết quả và cũng là người quyết định sự thành bại của mọi cuộc cải cách. Vì vậy, tuyên truyền về Nghị quyết 57 không nên chỉ dừng ở các mục tiêu, chỉ tiêu, phần mềm hay nền tảng, mà cần làm nổi bật thông điệp: Chuyển đổi số là quyền lợi, trách nhiệm và năng lực mới của mỗi người dân, mỗi cán bộ, mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị.

Khi người dân biết sử dụng công nghệ để tiếp cận dịch vụ công, tham gia giám sát, phản ánh kiến nghị, học tập, sản xuất, kinh doanh; khi cán bộ biết khai thác dữ liệu để ra quyết định nhanh hơn, chính xác hơn, minh bạch hơn; khi các cơ quan biết phối hợp trên nền tảng dùng chung thay vì chia cắt theo “kho dữ liệu riêng”, thì chuyển đổi số không còn là một chương trình hành chính, mà trở thành động lực phát triển mới của đất nước.

Kỷ luật dữ liệu, thước đo văn hóa công vụ

Nếu bình dân học vụ số là nền tảng về con người, thì kỷ luật dữ liệu là nền tảng của quản trị. Không có dữ liệu sạch, đúng, đủ, sống và được kết nối, chuyển đổi số rất dễ trở thành hình thức. Không có kỷ luật dùng chung dữ liệu, mỗi cơ quan sẽ có một hệ thống riêng, mỗi ngành có một chuẩn riêng, mỗi địa phương có một cách làm riêng. Hệ quả là dữ liệu phân tán, cát cứ, không tương thích; người dân vẫn phải khai báo nhiều lần; cán bộ vẫn tổng hợp thủ công; lãnh đạo vẫn khó có thông tin tức thời để chỉ đạo, điều hành.

Vì thế, yêu cầu tổng rà soát, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu, kết nối và khai thác trên phạm vi toàn hệ thống chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là một nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là cuộc chỉnh đốn về phương thức làm việc. Dữ liệu không còn là phần phụ của quản lý, mà trở thành hạ tầng thiết yếu của quản trị quốc gia. Dữ liệu không còn là tài sản riêng của từng đơn vị, mà là nguồn lực chung để phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển, phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước.

Chiến dịch 100 ngày đêm hoàn thành việc tạo lập, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kết nối, chia sẻ dữ liệu với Trung tâm dữ liệu quốc gia cần được tuyên truyền như một điểm nhấn lớn của quyết tâm chính trị. Nhưng tuyên truyền không chỉ để cổ vũ phong trào. Tuyên truyền còn để tạo áp lực tích cực về trách nhiệm, để mỗi cơ quan, đơn vị thấy rõ rằng chậm trễ trong chuẩn hóa dữ liệu là chậm trễ trong phục vụ nhân dân; cát cứ dữ liệu là cản trở cải cách; thiếu liên thông dữ liệu là làm giảm hiệu quả vận hành của cả hệ thống.

Trong nhiều năm, chúng ta đã nói nhiều đến cải cách hành chính, chính phủ điện tử, chính quyền số, xã hội số. Nhưng một trong những điểm nghẽn lớn nhất vẫn là dữ liệu. Có nơi có phần mềm nhưng thiếu dữ liệu. Có nơi có dữ liệu nhưng dữ liệu không sạch. Có nơi dữ liệu đã được tạo lập nhưng không kết nối. Có nơi kết nối được nhưng chưa khai thác hiệu quả. Có nơi lại e ngại chia sẻ vì sợ trách nhiệm, sợ mất quyền quản lý, hoặc đơn giản là vì quen với cách làm cũ. Những điểm nghẽn ấy, suy cho cùng, không chỉ là lỗi kỹ thuật, mà là vấn đề văn hóa tổ chức và văn hóa công vụ.

Văn hóa số trong hệ thống chính trị phải bắt đầu từ nhận thức rằng dữ liệu là để phục vụ, không phải để sở hữu cục bộ. Dữ liệu về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh xã hội… chỉ thực sự có giá trị khi được chuẩn hóa, liên thông, bảo mật và khai thác đúng mục đích. Một quyết định quản lý càng dựa trên dữ liệu đầy đủ thì càng giảm cảm tính. Một thủ tục hành chính càng dựa trên dữ liệu dùng chung thì càng giảm phiền hà. Một chính sách công càng được thiết kế từ bằng chứng dữ liệu thì càng sát thực tiễn và công bằng hơn.

Kỷ luật dữ liệu, vì thế, phải trở thành một chuẩn mực mới của kỷ luật hành chính. Cập nhật dữ liệu đúng hạn là kỷ luật. Chia sẻ dữ liệu theo quy định là kỷ luật. Không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin mà Nhà nước đã có là kỷ luật. Bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dân là kỷ luật. Không để dữ liệu sai lệch, trùng lặp, lỗi thời là kỷ luật. Và cao hơn, biết sử dụng dữ liệu để nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân chính là biểu hiện của đạo đức công vụ trong thời đại số.

Ở đây cần nhấn mạnh rằng chuyển đổi số không làm giảm vai trò của con người, mà đòi hỏi con người có trách nhiệm cao hơn. Công nghệ có thể giúp quy trình minh bạch hơn, dữ liệu có thể giúp quyết định chính xác hơn, nền tảng số có thể giúp phục vụ nhanh hơn; nhưng nếu cán bộ thiếu trách nhiệm, nếu tổ chức thiếu kỷ luật, nếu người đứng đầu không quyết liệt, thì hệ thống vẫn có thể vận hành hình thức. Vì vậy, kỷ luật dữ liệu phải gắn với trách nhiệm người đứng đầu, với đánh giá hiệu quả công vụ, với giám sát của nhân dân và với văn hóa nêu gương trong hệ thống chính trị.

Trong bối cảnh vận hành hệ thống chính trị theo mô hình mới, yêu cầu bảo đảm thông suốt, hiệu quả càng trở nên cấp thiết. Mọi sự chậm trễ trong kết nối dữ liệu đều có thể tạo ra độ trễ trong chỉ đạo, điều hành. Mọi sự thiếu chuẩn hóa đều có thể tạo ra sai lệch trong thực thi chính sách. Mọi sự cát cứ thông tin đều có thể làm suy giảm niềm tin của người dân vào hiệu quả cải cách. Do đó, xây dựng văn hóa số trong hệ thống chính trị chính là xây dựng một nền công vụ lấy dữ liệu làm cơ sở, lấy nhân dân làm trung tâm, lấy minh bạch làm nguyên tắc và lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo.