Văn hóa tiết kiệm – nguồn lực mềm cho khát vọng phát triển quốc gia
VHO - Việc Chính phủ ban hành 8 nghị quyết cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, trong đó bãi bỏ 184 thủ tục hành chính, phân cấp 134 thủ tục, đơn giản hóa 349 thủ tục và bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, không chỉ là một bước tiến quan trọng trong cải cách thể chế, mà còn là biểu hiện rất cụ thể của văn hóa tiết kiệm trong quản trị quốc gia. Tiết kiệm hôm nay không chỉ là giảm chi ngân sách, mà còn là tiết kiệm thời gian cho người dân, chi phí cho doanh nghiệp, nguồn lực cho Nhà nước và cơ hội phát triển cho đất nước. Từ thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chống lãng phí đến yêu cầu của Thủ tướng Lê Minh Hưng về tiết kiệm ít nhất 10% chi thường xuyên, có thể thấy một tinh thần xuyên suốt: muốn đất nước vươn mình, phải biết quý trọng, khơi thông và sử dụng hiệu quả từng nguồn lực quốc gia.

Tiết kiệm là giải phóng nguồn lực phát triển
Trong chiều sâu văn hóa Việt Nam, tiết kiệm luôn là một phẩm chất đáng quý. Từ đời sống gia đình đến quản trị quốc gia, từ những năm tháng chiến tranh gian khó đến công cuộc đổi mới, tinh thần cần kiệm, chắt chiu, biết dành dụm nguồn lực cho những mục tiêu lớn đã trở thành một phần trong bản lĩnh dân tộc. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, tiết kiệm không thể chỉ được hiểu là giảm bớt một khoản chi, hạn chế một cuộc họp, cắt đi một chuyến công tác hay tiết chế một hoạt động lễ nghi. Tiết kiệm phải được nhìn nhận rộng hơn, như một giá trị văn hóa phát triển, một nguyên tắc quản trị hiện đại và một nguồn lực mềm của quốc gia.
Bởi lãng phí trong xã hội hiện đại không chỉ nằm ở tiền bạc. Lãng phí có thể nằm trong một thủ tục kéo dài làm doanh nghiệp mất cơ hội thị trường; trong một điều kiện kinh doanh không còn phù hợp khiến ý tưởng khởi nghiệp bị chậm lại; trong một dự án chậm tiến độ làm đội vốn, giảm hiệu quả đầu tư; trong một thiết chế công được xây dựng nhưng không phát huy công năng; trong thời gian của người dân bị tiêu hao bởi đi lại, bổ sung hồ sơ, chờ đợi phê duyệt. Có những lãng phí hiện hữu trong con số ngân sách, nhưng cũng có những lãng phí âm thầm trong chi phí xã hội, niềm tin, động lực và cơ hội phát triển.
Chính vì vậy, việc Chính phủ gần đây bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh cần được nhìn nhận như một dấu mốc quan trọng trong tư duy tiết kiệm ở cấp độ thể chế. Theo thông tin được công bố, Chính phủ đã ban hành 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; sửa đổi, bổ sung đồng bộ 163 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có 2 nghị quyết của Chính phủ, 155 nghị định và 6 quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Cùng với việc bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, Chính phủ cũng bãi bỏ 184 thủ tục hành chính, phân cấp 134 thủ tục và đơn giản hóa 349 thủ tục. Đây là những con số rất đáng chú ý, bởi phía sau mỗi thủ tục được bãi bỏ, mỗi điều kiện kinh doanh được cắt giảm là một phần chi phí xã hội được tiết kiệm, một phần nguồn lực phát triển được giải phóng.
Nếu nhìn theo cách truyền thống, đây là cải cách hành chính. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, đó chính là văn hóa tiết kiệm trong quản trị quốc gia. Một Nhà nước biết tiết kiệm không chỉ là Nhà nước biết giảm chi tiêu công, mà còn là Nhà nước biết tự rà soát để loại bỏ những rào cản không cần thiết do chính mình đặt ra. Một nền hành chính tiết kiệm không chỉ là nền hành chính tiêu ít hơn, mà là nền hành chính làm cho người dân, doanh nghiệp và xã hội phải tốn ít thời gian, ít chi phí, ít thủ tục hơn để tạo ra nhiều giá trị hơn.
Trong bài viết “Chống lãng phí”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề rất sâu sắc khi nhấn mạnh yêu cầu xây dựng văn hóa phòng, chống lãng phí; đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở thành “tự giác”, “tự nguyện”, “cơm ăn nước uống, áo mặc hằng ngày”. Tinh thần ấy cho thấy tiết kiệm không phải là một phong trào ngắn hạn, càng không phải là phản ứng tình thế trước khó khăn ngân sách, mà phải trở thành một chuẩn mực ứng xử thường xuyên của hệ thống chính trị, của bộ máy công quyền, của doanh nghiệp và của từng người dân.
Từ góc nhìn đó, cắt giảm thủ tục, bãi bỏ điều kiện kinh doanh chính là một biểu hiện cụ thể của việc đưa tiết kiệm vào đời sống thể chế. Khi một thủ tục không cần thiết được loại bỏ, người dân tiết kiệm được thời gian, doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, cán bộ tiết kiệm được công sức xử lý sự vụ, Nhà nước tiết kiệm được nguồn lực quản lý và nền kinh tế tiết kiệm được cơ hội. Tiết kiệm ở đây không làm nhỏ đi vai trò quản lý nhà nước, mà làm cho quản lý nhà nước thông minh hơn, thực chất hơn, hướng đến kết quả nhiều hơn.
Từ cắt giảm thủ tục đến cắt giảm chi thường xuyên: hình thành văn hóa công vụ thực chất
Cải cách thủ tục hành chính và tiết kiệm chi thường xuyên là hai mặt của cùng một vấn đề: nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia. Một bên là tiết kiệm trong thiết kế và vận hành thể chế; một bên là tiết kiệm trong chi tiêu và quản trị ngân sách. Nếu được thực hiện đồng bộ, cả hai sẽ tạo ra một sự thay đổi quan trọng trong văn hóa công vụ: từ tư duy quản lý nặng về kiểm soát sang tư duy phục vụ; từ tâm lý chi cho hết dự toán sang chi để tạo giá trị; từ thói quen hành chính hình thức sang hành động thực chất, hiệu quả, có trách nhiệm giải trình.
Yêu cầu của Thủ tướng Lê Minh Hưng về tiết kiệm ít nhất 10% chi thường xuyên năm 2026, tương đương khoảng 170-180 nghìn tỷ đồng để dành thêm nguồn lực cho các nhiệm vụ ưu tiên, đặt ra một thông điệp quản trị rất rõ ràng. Trong điều kiện đất nước cần nguồn lực rất lớn cho hạ tầng, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa và các nhiệm vụ chiến lược khác, không thể để ngân sách bị tiêu hao vào những khoản chi chưa thật sự cần thiết. Thủ tướng cũng yêu cầu tiết kiệm năng lượng, điện, xăng dầu với các chỉ tiêu định lượng cụ thể để góp phần tăng trưởng.
Như vậy, tiết kiệm không phải là sự co hẹp phát triển, mà là tổ chức lại ưu tiên phát triển. Cắt giảm chi thường xuyên không có nghĩa là làm cho bộ máy thiếu điều kiện hoạt động, mà là loại bỏ phần chi không tạo ra giá trị công. Cắt giảm thủ tục không có nghĩa là buông lỏng quản lý, mà là quản lý trên cơ sở rủi ro, dữ liệu, hậu kiểm, trách nhiệm và minh bạch. Bãi bỏ điều kiện kinh doanh không có nghĩa là bỏ qua yêu cầu bảo vệ lợi ích công, mà là phân biệt rõ đâu là điều kiện thật sự cần thiết để bảo đảm an toàn, chất lượng, trật tự xã hội; đâu là rào cản không còn phù hợp, gây tốn kém, làm chậm phát triển.
Chính ở đây, văn hóa tiết kiệm trở thành văn hóa công vụ. Một cán bộ thực hành tiết kiệm không chỉ là người dùng tiết kiệm điện, giấy, xăng xe, mà còn là người xử lý hồ sơ đúng hạn, không yêu cầu thêm giấy tờ ngoài quy định, không để người dân phải đi lại nhiều lần, không né tránh trách nhiệm, không kéo dài quy trình vì tâm lý an toàn cá nhân. Một cơ quan thực hành tiết kiệm không chỉ là cơ quan giảm hội nghị, hội thảo, mà còn là cơ quan rà soát lại toàn bộ quy trình làm việc, số hóa dịch vụ công, phân cấp hợp lý, đo lường sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Một địa phương thực hành tiết kiệm không chỉ là địa phương giảm chi hành chính, mà còn là địa phương không để đất đai bỏ hoang, dự án chậm tiến độ, thiết chế công kém hiệu quả, tài sản công bị lãng phí.
Từ Quốc hội, có thể thấy yêu cầu này đặt ra trách nhiệm rất lớn đối với hoạt động lập pháp và giám sát. Một chính sách được thiết kế tốt cũng là một cách tiết kiệm cho xã hội. Một đạo luật rõ ràng, khả thi, minh bạch sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, giảm tranh chấp, giảm xin – cho, giảm rủi ro tùy tiện trong thực thi. Một cuộc giám sát đến nơi đến chốn về lãng phí sẽ không chỉ phát hiện sai phạm, mà còn chỉ ra những lỗ hổng thể chế, những quy định chồng chéo, những điểm nghẽn làm hao mòn nguồn lực phát triển.
Vì vậy, văn hóa tiết kiệm cần được đặt ngang tầm với yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tiết kiệm không chỉ là phẩm chất đạo đức của cá nhân, mà còn là chất lượng của thể chế. Thể chế tốt là thể chế không làm xã hội tốn kém một cách vô lý. Bộ máy tốt là bộ máy không tiêu hao quá nhiều nguồn lực cho chính sự vận hành của mình. Chính sách tốt là chính sách giúp người dân và doanh nghiệp làm đúng dễ hơn, nhanh hơn, ít chi phí hơn.
Văn hóa tiết kiệm – nguồn lực mềm cho khát vọng quốc gia vươn mình
Trong kỷ nguyên mới, đất nước cần những nguồn lực rất lớn để hiện thực hóa khát vọng phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Chúng ta cần vốn đầu tư, hạ tầng hiện đại, nhân lực chất lượng cao, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nhưng bên cạnh các nguồn lực hữu hình ấy, còn có một nguồn lực mềm đặc biệt quan trọng: đó là niềm tin xã hội được tạo nên từ một bộ máy biết tiết kiệm, một thể chế biết tự đổi mới, một nền hành chính biết phục vụ và một cộng đồng biết quý trọng tài sản chung.
Việc bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh vì thế không chỉ có tác động đến môi trường đầu tư, kinh doanh, mà còn góp phần củng cố niềm tin của xã hội vào quyết tâm cải cách. Doanh nghiệp sẽ có thêm niềm tin khi thấy Nhà nước không chỉ kêu gọi đổi mới sáng tạo, mà còn chủ động dỡ bỏ rào cản cho đổi mới sáng tạo. Người dân sẽ có thêm niềm tin khi thấy cải cách không dừng ở khẩu hiệu mà chuyển thành việc cụ thể, đo đếm được. Cán bộ sẽ có thêm động lực khi bộ máy chuyển từ quản lý sự vụ sang quản trị phát triển, từ xử lý giấy tờ sang tạo thuận lợi cho đời sống.
Trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần tiết kiệm cũng cần được hiểu đúng. Tiết kiệm không có nghĩa là giảm đầu tư cho văn hóa, không phải làm nghèo đi đời sống tinh thần của Nhân dân, càng không phải coi văn hóa là lĩnh vực có thể cắt giảm tùy tiện. Ngược lại, tiết kiệm trong văn hóa là chống lãng phí nguồn lực văn hóa. Đó là không để thiết chế văn hóa xây xong nhưng vắng người sử dụng; không tổ chức sự kiện tốn kém nhưng thiếu chiều sâu; không để di sản xuống cấp rồi mới khẩn trương cứu chữa; không đầu tư dàn trải mà thiếu trọng tâm; không để tài năng sáng tạo bị bỏ quên; không để công nghiệp văn hóa chậm phát triển vì thiếu cơ chế phù hợp.
Một bảo tàng phải có công chúng. Một nhà hát phải sáng đèn. Một thư viện phải có người đọc. Một trung tâm văn hóa phải trở thành không gian sinh hoạt của cộng đồng. Một đồng ngân sách dành cho văn hóa phải chuyển hóa thành giá trị tinh thần, bản sắc, sáng tạo, niềm tự hào và sức mạnh mềm quốc gia. Đó mới là tiết kiệm đúng nghĩa trong phát triển văn hóa: không phải chi ít đi bằng mọi giá, mà là chi đúng hơn, trúng hơn, hiệu quả hơn, để văn hóa thật sự trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển bền vững.
Nhìn rộng hơn, văn hóa tiết kiệm phải trở thành nếp nghĩ và cách làm của toàn xã hội. Trong khu vực công, đó là kỷ luật tài chính, cải cách thủ tục, chuyển đổi số, sử dụng hiệu quả tài sản công, trách nhiệm người đứng đầu. Trong doanh nghiệp, đó là quản trị hiện đại, tối ưu hóa nguồn lực, đổi mới công nghệ, giảm lãng phí nguyên liệu, năng lượng, thời gian. Trong gia đình, đó là lối sống giản dị, tiêu dùng có trách nhiệm, tránh phô trương, hình thức. Trong nhà trường, đó là giáo dục thế hệ trẻ biết quý trọng lao động, tài nguyên, môi trường, tri thức và thời gian. Trong cộng đồng, đó là thái độ không thờ ơ trước lãng phí, biết lên tiếng trước những biểu hiện sử dụng tài sản công thiếu trách nhiệm.
Đất nước muốn vươn mình không thể để nguồn lực bị mắc kẹt trong thủ tục. Nền kinh tế muốn bứt phá không thể để doanh nghiệp tiêu hao quá nhiều thời gian vào những điều kiện không còn phù hợp. Bộ máy muốn phục vụ tốt hơn không thể để năng lượng hành chính bị dàn trải vào việc hình thức. Xã hội muốn phát triển bền vững không thể quen với lãng phí từ những việc nhỏ nhất.
Văn hóa tiết kiệm, vì thế, không phải là câu chuyện của sự dè sẻn, mà là câu chuyện của trí tuệ phát triển. Không phải là thu hẹp khát vọng, mà là tạo nền tảng chắc hơn cho khát vọng. Không phải là cắt bớt động lực, mà là loại bỏ lực cản. Từ việc bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh đến yêu cầu tiết kiệm ít nhất 10% chi thường xuyên, điều quan trọng nhất là hình thành một chuẩn mực quản trị mới: mọi nguồn lực quốc gia đều quý giá, mọi chi phí xã hội đều cần được tính đến, mọi thủ tục không cần thiết đều phải được dũng cảm cắt bỏ, mọi đồng ngân sách đều phải hướng đến lợi ích của Nhân dân.
Khi tiết kiệm trở thành văn hóa, chống lãng phí trở thành kỷ luật, cải cách thể chế trở thành hành động thường xuyên, đất nước sẽ có thêm một nguồn lực mềm vô cùng quan trọng: niềm tin. Và chính niềm tin ấy, cùng với nguồn lực được khơi thông, chi phí được giảm bớt, cơ hội được mở rộng, sẽ góp phần đưa Việt Nam tiến nhanh hơn, vững chắc hơn trên con đường phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

RSS