Triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam:
Từ nghị quyết đến động lực phát triển đất nước
VHO - Hôm nay 20.4, Quốc hội thảo luận ở Tổ Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, còn Chính phủ trước đó đã thống nhất hồ sơ dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đột phá cho lĩnh vực này.
Đây không chỉ là một bước đi về mặt kỹ thuật lập pháp, mà còn là dấu hiệu cho thấy văn hóa đang thực sự được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia, như một nền tảng tinh thần, một nguồn lực nội sinh và một động lực mới cho tăng trưởng bền vững.

Khi văn hóa được nhìn như một trụ cột phát triển
Một trong những chuyển động quan trọng nhất của dự thảo là sự thay đổi trong cách tiếp cận. Từ rất lâu, điểm nghẽn của văn hóa không hẳn nằm ở chỗ chúng ta thiếu nhận thức, mà ở chỗ nhận thức đúng nhiều khi chưa được chuyển hóa thành ưu tiên chính sách đủ mạnh.
Văn hóa vẫn thường được nhắc đến như điều rất quan trọng, nhưng khi phân bổ nguồn lực, khi bố trí đất đai, khi thiết kế chính sách thuế, khi xây dựng hạ tầng, khi bàn về động lực tăng trưởng, văn hóa lại hay bị xếp ở vòng ngoài. Dự thảo nghị quyết lần này gửi đi một thông điệp khác đó là đã đến lúc phải đặt văn hóa vào trung tâm của tư duy phát triển.
Tinh thần ấy thể hiện rất rõ ở quy định về nguồn lực phát triển văn hóa, trong đó Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển, đồng thời bảo đảm kinh phí cho Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa.
Đây không chỉ là một con số, mà là một sự khẳng định nguyên tắc đầu tư cho văn hóa không phải là chi tiêu phụ, mà là đầu tư cho phát triển bền vững, cho chất lượng con người, cho sức bền của quốc gia trong dài hạn. Tư duy mới ấy cũng thể hiện ở chỗ dự thảo dành dung lượng đáng kể cho các cơ chế đặc thù đối với công trình trọng điểm về văn hóa, thể thao.
Chính ở đây, tôi cho rằng có thể tiếp tục mở rộng thêm một hướng rất đáng suy nghĩ đó là cùng với đầu tư cho các công trình văn hóa chuyên biệt, cần nghiên cứu cơ chế dành một tỷ lệ nhất định trong tổng mức đầu tư của các dự án hạ tầng công cộng lớn cho các hạng mục văn hóa, nghệ thuật, mỹ thuật công cộng.
Mở đường cho một nền kinh tế giàu bản sắc
Điểm đáng chú ý thứ hai của dự thảo là không dừng lại ở câu chuyện gìn giữ cái đã có, mà mạnh dạn mở đường cho việc tạo ra giá trị mới từ văn hóa. Dự thảo đã đề cập khá cụ thể đến việc hình thành cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa tiếp cận đất đai, mặt bằng, hạ tầng số và các giải pháp công nghệ cao.
Những lĩnh vực trọng tâm được nêu như du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, trò chơi điện tử trên mạng đều là những ngành có tiềm năng lớn, có khả năng tạo giá trị gia tăng cao, thu hút giới trẻ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và lan tỏa hình ảnh quốc gia.
Chúng ta đã nói về công nghiệp văn hóa nhiều năm, nhưng điều còn thiếu chính là một khung thể chế đủ mạnh để doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà đầu tư, nhà sáng tạo và chính quyền địa phương có thể cùng bước vào cuộc chơi với một niềm tin chính sách rõ ràng.
Dự thảo nghị quyết lần này là một tín hiệu tích cực vì nó không chỉ nói “khuyến khích” một cách chung chung, mà bắt đầu bàn đến những công cụ cụ thể như ưu đãi tiếp cận đất đai, hỗ trợ thuế, hỗ trợ hạ tầng, mô hình hợp tác công tư, hỗ trợ quảng bá và xuất khẩu sản phẩm văn hóa ra nước ngoài.
Ở đây theo tôi có thể cân nhắc mạnh hơn nữa về chính sách thuế như một đòn bẩy phát triển. Dự thảo đã đề xuất mức thuế suất giá trị gia tăng 5% cho một số hoạt động như sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim, triển lãm, thể dục thể thao và biểu diễn nghệ thuật. Đây là hướng đi rất đáng ủng hộ, vì nó thể hiện sự thừa nhận rằng văn hóa cần được đối xử như một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược, cần những ưu đãi đủ hấp dẫn để tạo cú hích cho đầu tư và sáng tạo.
Một điểm rất đẹp trong dự thảo là vẫn giữ được sự cân bằng giữa phát triển công nghiệp văn hóa với bảo tồn các giá trị truyền thống. Các quy định về ưu tiên nguồn lực cho văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống, bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm, về đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ văn hóa nghệ thuật truyền thống, về bảo đảm thời lượng phát sóng cho các chương trình văn hóa dân gian, nghệ thuật truyền thống, cho thấy dự thảo không chạy theo tư duy thị trường thuần túy.
Đây là điều rất quan trọng. Bởi nếu công nghiệp văn hóa mà tách khỏi cội nguồn dân tộc, khỏi trí nhớ lịch sử, khỏi di sản, khỏi bản sắc cộng đồng, thì chúng ta có thể tạo ra doanh thu trước mắt nhưng khó tạo ra giá trị bền lâu.
Ngược lại, nếu chỉ giữ gìn mà không thổi được sinh khí mới vào di sản, không tạo được không gian tiêu dùng và sáng tạo hiện đại, thì di sản cũng dễ đứng ngoài đời sống. Giá trị của dự thảo lần này là ở chỗ nó gợi ra một con đường trung hòa giữa hai cực ấy: Bảo tồn để phát triển, phát triển để làm sống bền di sản.
Chuẩn bị nền móng cho tương lai
Một nghị quyết về phát triển văn hóa trong năm 2026 mà không nói mạnh đến chuyển đổi số thì sẽ khó bắt kịp thời đại. Dự thảo lần này đã thể hiện khá rõ tinh thần đó. Việc Nhà nước ưu tiên đầu tư cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, hạ tầng số, nền tảng dùng chung, giao Bộ VHTTDL xây dựng nền tảng văn hóa số toàn dân, cung cấp thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, lớp học nghệ thuật trực tuyến; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ tiên tiến, thu hút đầu tư từ các tập đoàn công nghệ lớn vào hạ tầng số cho văn hóa, là những bước đi cho thấy tư duy lập pháp đã bắt đầu nhìn thấy tương lai.
Không chỉ dừng ở hạ tầng, dự thảo còn nhìn tới yếu tố con người. Chính sách phát triển tài năng, tuyển dụng không qua thi tuyển đối với một số nghệ sĩ, vận động viên tài năng, du học sinh được đào tạo bằng ngân sách nhà nước ở nước ngoài; phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn; hỗ trợ đào tạo lại cho những người hết tuổi nghề; hỗ trợ đào tạo nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp văn hóa, đổi mới sáng tạo, sáng tạo nội dung số, giám tuyển, giám định tác phẩm… là những điểm rất nhân văn và rất trúng.
Ở đây tôi cho rằng, tinh thần tích cực của dự thảo nên được nối dài thêm bằng những chính sách mạnh hơn nữa về đầu tư cho giáo dục nghệ thuật, giáo dục thẩm mỹ và đào tạo nhân lực sáng tạo ngay từ sớm. Văn hóa không thể phát triển chỉ bằng vài chương trình ngắn hạn, mà phải bằng một chiến lược trồng người lâu dài. Một xã hội biết thưởng thức nghệ thuật, biết quý di sản, biết đọc, biết nghe, biết xem, biết tranh luận có văn hóa, biết tôn trọng sáng tạo, thì tự thân nó sẽ tạo ra thị trường cho văn hóa, và từ đó tạo ra động lực cho cả hệ sinh thái phát triển.
Dự thảo cũng có một điểm rất đáng chú ý là quy định về quảng bá, xúc tiến, phát triển sản phẩm, thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam, trong đó có hỗ trợ các chương trình quảng bá sản phẩm văn hóa tiêu biểu ở nước ngoài, hỗ trợ trưng bày chuyên đề di sản Việt Nam tại các bảo tàng có uy tín trên thế giới, và chính sách hoàn trả chi phí hợp lệ phát sinh tại Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng bối cảnh Việt Nam để sản xuất phim. Khi được triển khai tốt, những cơ chế ấy sẽ không chỉ mang lại giá trị kinh tế trực tiếp, mà còn giúp Việt Nam kể câu chuyện của mình bằng những phương thức hiện đại hơn, hấp dẫn hơn, rộng mở hơn.
Có thể nói, điều đáng quý ở thời điểm này là văn hóa đang dần được trả về đúng vị trí vốn có của nó: Không phải phần trang trí cho phát triển, mà là một trong những điều kiện làm nên chất lượng phát triển. Quốc hội thảo luận ở Tổ về Nghị quyết phát triển văn hóa Việt Nam ngày 20.4 vì thế không chỉ là một hoạt động nghị trường.
Đó còn là một tín hiệu của niềm tin: Niềm tin rằng khi thể chế được hoàn thiện, khi nguồn lực được bảo đảm, khi chính sách đủ mở và đủ sâu, thì văn hóa sẽ không còn bị xem là lĩnh vực “khó đo đếm”, “khó ưu tiên”, mà sẽ trở thành một trụ cột thật sự của hành trình chấn hưng dân tộc.
Và có lẽ, điều đẹp nhất của dự thảo này nằm ở chỗ nó không chỉ nói về gìn giữ quá khứ, mà còn khơi mở tương lai. Một tương lai trong đó di sản được sống cùng đời sống mới; nghệ thuật hiện diện ngay trong không gian công cộng hằng ngày; người làm văn hóa được trân trọng hơn; doanh nghiệp sáng tạo có thêm động lực đầu tư; công nghệ số trở thành cánh tay nối dài của bản sắc; và văn hóa Việt Nam có thể bước ra thế giới bằng một diện mạo tự tin, hiện đại nhưng vẫn đậm sâu cốt cách dân tộc.
Đó là hướng đi tích cực mà dự thảo Nghị quyết lần này đang gợi ra. Và cũng là điều khiến chúng ta có quyền kỳ vọng rằng, từ nghị quyết hôm nay, sẽ mở ra một chặng đường phát triển mới cho văn hóa Việt Nam ngày mai.

RSS