Từ mùa Xuân đại thắng đến khát vọng chấn hưng văn hóa

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN; ảnh: TR.HUẤN

VHO - Trong không khí thiêng liêng của những ngày tháng Tư lịch sử, khi cả dân tộc lại lắng lòng nhớ về Đại thắng mùa Xuân 1975, về ngày non sông thu về một mối, việc Quốc hội thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam vào ngày 24.4 vừa qua có thể được nhìn như một dấu mốc mới của hành trình dựng xây đất nước.

Từ mùa Xuân đại thắng đến khát vọng chấn hưng văn hóa - ảnh 1
Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 24.4.2026

 Nếu chiến thắng 30.4.1975 là thắng lợi của ý chí độc lập, thống nhất và khát vọng tự do, thì những quyết sách hôm nay là sự tiếp nối ở một tầm vóc mới: Làm cho đất nước mạnh lên không chỉ bằng kinh tế, quốc phòng hay khoa học công nghệ, mà còn bằng chiều sâu văn hóa, bằng sức mạnh tinh thần, bằng năng lực sáng tạo và bản lĩnh của con người Việt Nam.

Từ thống nhất non sông đến thống nhất sức mạnh tinh thần của dân tộc

Mỗi độ tháng Tư về, trong ký ức dân tộc lại ngân lên âm hưởng rất đặc biệt. Đó là âm hưởng của ngày chiến thắng. Âm hưởng của cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Âm hưởng của đoàn quân từ mọi miền đất nước đi qua khói lửa chiến tranh để khép lại những năm dài chia cắt.

Nhưng sâu hơn tất cả, 30.4 là ngày dân tộc Việt Nam khẳng định trước lịch sử và trước thế giới rằng không một thế lực nào có thể khuất phục được ý chí độc lập, thống nhất và khát vọng được sống như một dân tộc tự do, có chủ quyền, có phẩm giá.

Chiến thắng ấy được làm nên bằng lòng yêu nước, bằng niềm tin, bằng sự hy sinh, bằng tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, nhưng cũng được làm nên bởi một nền tảng rất sâu xa: Sức mạnh văn hóa Việt Nam. Đó là sức mạnh của truyền thống chống ngoại xâm, của đạo lý “nước mất thì nhà tan”, của tình nghĩa đồng bào, của lòng trung hiếu, thủy chung, của ý chí vượt lên gian khổ, của niềm tin rằng dân tộc này có thể đi qua mọi mất mát để đứng dậy và đi tới.

Nói cách khác, nếu không có một nền văn hóa đủ bền, một cốt cách dân tộc đủ sâu, một bản lĩnh tinh thần đủ lớn, sẽ không thể có một Đại thắng mùa Xuân chấn động địa cầu như chúng ta đã có. Vì thế, nghị quyết phát triển văn hóa và ngày 30.4 không phải là hai câu chuyện xa nhau. Đó là sự nối dài tự nhiên của một mạch thống nhất: Sau khi giành lại được non sông, chúng ta phải tiếp tục làm cho non sông ấy giàu đẹp hơn, nhân văn hơn, đáng sống hơn, đáng tự hào hơn. Sau khi thống nhất bờ cõi, chúng ta phải tiếp tục vun bồi sự thống nhất trong tâm hồn dân tộc, trong hệ giá trị, trong khát vọng phát triển, trong năng lực kể câu chuyện Việt Nam với thế giới. Và ở điểm này, văn hóa chính là chiếc cầu nối giữa chiến thắng của quá khứ và tầm vóc của tương lai.

Bởi lẽ, đất nước hôm nay đang đứng trước một yêu cầu phát triển hoàn toàn khác trước. Chúng ta không chỉ cần tăng trưởng cao hơn, hội nhập sâu hơn, làm chủ công nghệ tốt hơn, mà còn phải làm sao để con người Việt Nam lớn lên cùng với phát triển, để bản sắc Việt Nam không bị hòa tan trong toàn cầu hóa, để mỗi bước tiến kinh tế đều có chiều sâu văn hóa, để mỗi đô thị hiện đại vẫn giữ được ký ức và linh hồn của mình, để mỗi sản phẩm Việt Nam không chỉ có giá trị sử dụng mà còn mang theo giá trị thẩm mỹ, giá trị tinh thần, giá trị bản sắc.

Đó là lý do vì sao văn hóa không thể tiếp tục đứng ở vị trí “đi sau”, càng không thể bị coi là phần việc sẽ làm khi đất nước đã đủ giàu. Trái lại, văn hóa phải được nhìn như một trong những điều kiện làm nên sự giàu mạnh bền vững. Quan điểm này cũng rất gần với yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rằng hệ thống pháp luật phải trở thành “nền tảng thể chế của phát triển”, và phải đổi mới tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo, mở đường cho cái mới, sửa đường cho phát triển.

Chính từ đó, việc Quốc hội dành sự quan tâm đặc biệt cho Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam mang ý nghĩa lớn hơn nhiều so với một quy trình lập pháp thông thường. Nó cho thấy văn hóa đã thực sự được đặt vào trung tâm của tư duy phát triển mới, nơi thể chế không chỉ ghi nhận vai trò của văn hóa bằng lời nói, mà bắt đầu trao cho văn hóa những công cụ cụ thể để bứt phá.

Từ mùa Xuân đại thắng đến khát vọng chấn hưng văn hóa - ảnh 2
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 24.4.2026

Khơi thông những điểm nghẽn

Giá trị lớn nhất của nghị quyết lần này, theo tôi, nằm ở chỗ nó không dừng ở những khẳng định đẹp đẽ nhưng quen thuộc về vai trò của văn hóa. Văn bản đã chạm thẳng vào những điểm nghẽn cụ thể, kéo dài, dai dẳng, nhiều khi khiến lĩnh vực văn hóa dù được nói nhiều nhưng vẫn phát triển chưa tương xứng. Điểm nghẽn đầu tiên là nguồn lực. Trong rất nhiều năm, văn hóa luôn đối diện với nghịch lý: Được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, nhưng nguồn lực dành cho văn hóa lại chưa tương xứng với vai trò ấy.

 Nghị quyết của Quốc hội quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển, đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực xã hội. Khi được thực thi, đây sẽ là một bước ngoặt rất quan trọng. Bởi đầu tư cho văn hóa không phải là chi cho cái đẹp theo nghĩa trang trí, mà là đầu tư cho con người, cho bản sắc, cho sự bền vững, cho năng lực sáng tạo và cho chính nền tảng tinh thần của quốc gia.

Điểm nghẽn thứ hai là không gian phát triển. Văn hóa lâu nay thường được hình dung qua các nhà hát, bảo tàng, thư viện, lễ hội hay phong trào. Nhưng trong thế giới đương đại, văn hóa còn là một hệ sinh thái sản xuất và lưu thông giá trị. Nó đi vào điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, mỹ thuật, trò chơi điện tử, quảng bá hình ảnh đất nước, du lịch văn hóa, nội dung số, không gian sáng tạo.

Chính vì vậy, việc dự thảo nghị quyết đặt ra các khái niệm như cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa là một bước tiến rất đáng chú ý. Nó cho thấy tư duy thể chế đã bắt đầu nhìn văn hóa như một lĩnh vực có thể tổ chức theo chuỗi giá trị, có hạ tầng, có đầu tư, có sản xuất, có phân phối, có thị trường, có năng lực cạnh tranh. Đó là nền tảng để công nghiệp văn hóa thực sự trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế và của sức mạnh mềm quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Một nền văn hóa mạnh không chỉ được đo bằng chiều sâu truyền thống, mà còn bởi năng lực sáng tạo và năng lực sản xuất những sản phẩm văn hóa chất lượng cao, có sức lan tỏa và có thị trường”. Đồng thời, cần “phát triển công nghiệp văn hóa để văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực kinh tế, vừa là sức mạnh mềm của quốc gia”. Đó là một cách tiếp cận rất hiện đại, rất mở, và cũng rất đúng với thời đại hôm nay. Văn hóa không chỉ có nhiệm vụ giữ gìn bản sắc, mà còn phải tạo ra giá trị mới, tạo ra sinh kế, tạo ra niềm tự hào, tạo ra ảnh hưởng quốc tế cho đất nước.

Điểm nghẽn thứ ba là con người làm văn hóa. Không ít nghệ sĩ, diễn viên, vận động viên, cán bộ văn hóa cơ sở, nghệ nhân, người thực hành di sản đã và đang cống hiến trong điều kiện nghề nghiệp còn nhiều thiệt thòi. Nghị quyết lần này chạm đúng vào nỗi trăn trở ấy khi thiết kế chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng và nhân lực đặc thù: Cho phép tuyển dụng không qua thi tuyển đối với một số tài năng nổi trội; quy định phụ cấp ưu đãi nghề; chế độ bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn; hỗ trợ đào tạo lại người hết tuổi nghề; đầu tư đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp văn hóa, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giám tuyển, giám định. Những quy định này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế hay hành chính. Nó là sự thừa nhận rằng người làm văn hóa là những người tạo ra giá trị đặc biệt, cần được đối xử bằng một chính sách phù hợp với tính đặc thù nghề nghiệp của họ.

Điểm nghẽn tiếp theo là cơ chế tài chính cho sáng tạo. Lâu nay, không ít hoạt động sáng tạo nghệ thuật phải vận hành trong một khung khổ tài chính mang nặng tư duy quản lý hành chính, khiến những gì đáng lẽ cần mềm dẻo, linh hoạt, tin cậy thì lại trở nên cứng nhắc, nhiều thủ tục, khó khuyến khích đột phá. Nghị quyết đưa vào cơ chế đặt hàng sáng tạo, phổ biến các công trình, tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật; cho phép giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu; đồng thời thí điểm khoán chi đối với một số hoạt động sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước. Đây là một chuyển động rất đáng kỳ vọng. Muốn có tác phẩm lớn, muốn có công trình văn hóa xứng tầm, thì trước hết phải có cơ chế đủ lớn, đủ tinh tế để nâng đỡ sáng tạo.

Cũng không thể không nhắc đến điểm nghẽn của thời đại số. Nghị quyết dành hẳn một điều cho chuyển đổi số và phát triển hạ tầng văn hóa số: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, số hóa di sản, nền tảng số dùng chung, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiên tiến, thí điểm bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số, các thiết chế văn hóa số khác, hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa, sáng tạo nội dung số, đồng thời tăng cường năng lực giám sát, rà quét, xử lý thông tin xấu độc và bảo vệ bản quyền, chủ quyền văn hóa số. Điều đó cho thấy nghị quyết không chỉ giải quyết câu chuyện hôm nay, mà đang cố gắng chuẩn bị cho hình hài của văn hóa Việt Nam trong tương lai.

Một điểm rất đẹp của văn bản này là tư duy đưa văn hóa trở lại gần với cộng đồng. Quy định cho phép UBND cấp xã giao cho tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng một số thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở gợi mở một hướng đi rất hay: Trao vai trò chủ thể nhiều hơn cho cộng đồng trong đời sống văn hóa. Trong chiều sâu, đây không chỉ là chuyện quản lý một nhà văn hóa hay sân thể thao, mà là cách nuôi dưỡng trở lại năng lực tự tổ chức, tự chăm sóc đời sống tinh thần của người dân từ cơ sở. Mà một nền văn hóa sống động, xét cho cùng, không thể chỉ được tạo nên từ các quyết định ở trung ương, nó còn phải được nuôi từ làng xóm, khu phố, từ cộng đồng, từ gia đình, từ những con người cụ thể mỗi ngày.

Để chiến thắng hôm qua hóa thành sức mạnh phát triển hôm nay

Trong không khí của ngày 30.4, mỗi người Việt Nam đều cảm nhận rất rõ niềm xúc động đặc biệt. Đó là niềm xúc động khi nhớ về những người đã ngã xuống để đất nước có ngày toàn thắng. Đó là niềm xúc động khi nghĩ đến chặng đường từ chiến tranh đi tới hòa bình, từ chia cắt đi tới thống nhất, từ thiếu thốn đi tới phát triển và hội nhập. Nhưng tháng Tư cũng luôn gợi lên một câu hỏi thầm lặng: Sau chiến thắng, chúng ta sẽ làm gì để xứng đáng với những hy sinh ấy?

Câu trả lời hôm nay không thể chỉ nằm ở những công trình cao hơn, những con số tăng trưởng lớn hơn hay những chỉ tiêu kinh tế ấn tượng hơn. Tất cả những điều đó đều quan trọng. Nhưng nếu một đất nước tăng trưởng mà con người trở nên lạnh lùng hơn, ứng xử thô ráp hơn, ký ức bị mài mòn hơn, bản sắc nhòe đi hơn, cái đẹp ít được nâng niu hơn, sự sáng tạo thiếu được khích lệ hơn, thì sự phát triển ấy sẽ khó có thể trọn vẹn. Chính vì vậy, Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam được thông qua đúng như định hướng đang thảo luận, sẽ là một lời khẳng định rất có ý nghĩa trong dịp 30.4: Chúng ta không chỉ biết giữ nước và dựng nước, mà còn biết chăm lo cho linh hồn của đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra một thông điệp: “Mục tiêu của chúng ta là văn học nghệ thuật, văn hóa phải phục vụ nhân dân, nhân dân có quyền thụ hưởng bởi đời sống không chỉ là cơm ăn, áo mặc mà đòi hỏi cuộc sống tinh thần cũng phải được cải thiện, được hưởng thụ”. Câu nói ấy chạm vào cốt lõi nhân văn của mọi chính sách văn hóa. Cuối cùng, mọi nghị quyết, mọi ưu đãi, mọi quỹ, mọi cơ chế đặt hàng, mọi khu sáng tạo, mọi công trình số hóa, mọi chính sách nhân lực… đều phải quay về một câu hỏi giản dị mà lớn lao: Người dân có được sống trong một đời sống tinh thần tốt đẹp hơn không? Trẻ em có được tiếp cận nghệ thuật nhiều hơn không? Người lao động có thêm không gian văn hóa để nghỉ ngơi, nuôi dưỡng tâm hồn không? Người nghệ sĩ có thêm điều kiện để dấn thân sáng tạo không? Người dân ở miền núi, biên giới, hải đảo có bớt “đói văn hóa” không? Di sản có được sống trong đời sống hôm nay thay vì chỉ nằm trong hồ sơ hay khẩu hiệu không?

Đó cũng là lý do vì sao nghị quyết này, khi được hiện thực hóa tốt, sẽ không chỉ có ý nghĩa với ngành văn hóa. Nó liên quan đến chất lượng phát triển của quốc gia. Liên quan đến năng lực cạnh tranh bằng bản sắc. Liên quan đến khả năng xây dựng niềm tin xã hội. Liên quan đến hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Liên quan đến sức bền của dân tộc trong một thế giới ngày càng nhiều biến động. Và sâu xa hơn, nó liên quan đến câu hỏi rất căn bản: Chúng ta muốn trở thành một quốc gia như thế nào trong thế kỷ XXI?

Dĩ nhiên, từ nghị quyết đến cuộc sống là một chặng đường dài. Thách thức lớn nhất sau khi nghị quyết được thông qua sẽ là tổ chức thực hiện. Làm sao để con số 2% không chỉ là một tuyên bố. Làm sao để ưu đãi đầu tư không bị sa vào thủ tục. Làm sao để khu, cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa không bị biến thành một khẩu hiệu mới hay một dự án bất động sản đội lốt sáng tạo. Làm sao để quỹ văn hóa, nghệ thuật vận hành hiệu quả, minh bạch, dám chấp nhận rủi ro sáng tạo nhưng vẫn an toàn với vốn công. Làm sao để cơ chế đặt hàng không quay về lối mòn xin - cho. Làm sao để chuyển đổi số văn hóa không chỉ là số hóa hình thức mà tạo ra giá trị mới, công chúng mới, thị trường mới. Tất cả điều đó đòi hỏi bản lĩnh thực thi, sự đồng bộ liên ngành và một tầm nhìn nhất quán từ trung ương đến địa phương.

Nhưng dẫu còn nhiều việc phải làm, ngay ở thời khắc này, khi tháng Tư lại về trên dải đất hình chữ S, việc Quốc hội quyết định một quyết sách lớn về văn hóa vẫn có ý nghĩa biểu tượng rất đẹp. Bởi nó gợi nhắc rằng chiến thắng không chỉ là một sự kiện để kỷ niệm, mà còn là một trách nhiệm để tiếp nối. Trách nhiệm làm cho đất nước này không chỉ độc lập và thống nhất, mà còn văn minh và nhân văn. Không chỉ giàu có hơn, mà còn sâu sắc hơn. Không chỉ có vị thế cao hơn, mà còn có bản sắc rõ hơn. Không chỉ mạnh ở năng lực vật chất, mà còn mạnh ở nội lực tinh thần. Tháng Tư của năm nay, vì thế, không chỉ là tiếng vọng của khúc khải hoàn năm xưa. Nó còn có thể là tiếng gọi đi tới. Từ mùa Xuân đại thắng đến khát vọng chấn hưng văn hóa là một hành trình nối tiếp tự nhiên của dân tộc Việt Nam. Và khi nghị quyết này thực sự đi vào cuộc sống, thì đó sẽ là một cách rất đẹp để tri ân chiến thắng: Biến ký ức hào hùng của quá khứ thành năng lượng sáng tạo cho hiện tại, để từ đó xây dựng một Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, giàu bản sắc và đầy tự tin trong tương lai.