Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo các nội dung quan trọng yêu cầu đột phá trong công tác cán bộ
VHO - Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Thông báo kết luận số 166-TB/VPTW, ngày 3.9.2026 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về Đề án tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ và xây dựng Nghị quyết mới về cán bộ, công tác cán bộ.

Ngày 26.8.2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về tình hình triển khai Đề án tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ và xây dựng Nghị quyết mới về cán bộ, công tác cán bộ. Sau khi nghe Ban Tổ chức Trung ương báo cáo và ý kiến của các đại biểu, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã có kết luận.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế, bất cập cần nghiêm túc nhận diện, tập trung khắc phục. Mục tiêu tổng quát tuy đạt nhiều kết quả quan trọng nhưng chưa được thực hiện đầy đủ, vững chắc; kết quả giữa các cấp, ngành, lĩnh vực, địa bàn còn chưa đồng đều, có sự chênh lệch.
Chất lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ còn bất cập; cán bộ có năng lực nổi trội, chuyên gia giỏi ở một số lĩnh vực chiến lược còn thiếu; chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở ở một số nơi còn bất cập. Năng lực dự báo, tư duy chiến lược, quản trị hiện đại, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và tổ chức thực hiện của một bộ phận cán bộ chưa theo kịp yêu cầu của tình hình mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ: Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa tạo được chuyển biến căn bản; việc lượng hoá, kiểm chứng sản phẩm, kết quả, hiệu quả công tác còn hạn chế; kết quả đánh giá chưa thực sự được sử dụng xuyên suốt, đồng bộ trong các khâu phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, thực hiện chính sách và sàng lọc cán bộ.
Công tác tạo nguồn có nơi chưa chủ động, thiếu tính chiến lược; nguồn kế cận ở một số vị trí, lĩnh vực còn mỏng; cơ chế phát hiện, thu hút, trọng dụng và phát huy nhân tài chưa đủ mạnh; dữ liệu cán bộ còn phân tán, thiếu liên thông, chưa thực sự trở thành nền tảng phục vụ quản trị, dự báo và kiểm soát quyền lực.
Một bộ phận cán bộ vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ sai, sợ trách nhiệm; một số trường hợp cán bộ sau bố trí, bổ nhiệm mới phát hiện vi phạm cho thấy vẫn còn khoảng trống trong đánh giá, thẩm định, xác minh, kiểm soát và lựa chọn nhân sự; cơ chế phòng ngừa, phát hiện sớm và sàng lọc cán bộ chưa thực sự hiệu quả.
Về định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, Nghị quyết mới của Trung ương khoá XIV phải thực sự tạo bước phát triển mới về tư duy, thể chế và phương thức công tác cán bộ.
Về quan điểm, cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng giữ vững các nguyên tắc cốt lõi: Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ; tập trung dân chủ đi đôi với rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm; phân cấp gắn với kiểm soát quyền lực; đức là gốc nhưng phải coi trọng thực tài, năng lực thực tiễn, sản phẩm, kết quả và hiệu quả công việc; không lấy cơ cấu thay tiêu chuẩn, đồng thời bảo đảm kế thừa, chuyển tiếp giữa các thế hệ.
Về mục tiêu, tiếp tục nghiên cứu xây dựng các mốc phát triển có tính kế thừa, liên tục và khả thi. Đến năm 2030, tạo chuyển biến căn bản, thực chất trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ; cơ bản hoàn thiện nền tảng về thể chế, vị trí việc làm, khung năng lực, đánh giá, tạo nguồn, dữ liệu, quản trị, phát triển đội ngũ. Đến năm 2035, xây dựng đội ngũ phát triển đồng bộ, toàn diện, chất lượng cao; phương thức quản trị vận hành thống nhất, liên thông, hiện đại và thực chất; cơ chế phát hiện, đào tạo, sử dụng, trọng dụng và sàng lọc trở thành nền nếp, bảo đảm lựa chọn đúng người, bố trí đúng việc và sử dụng hiệu quả năng lực của từng cán bộ. Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng đội ngũ cán bộ và nền quản trị, phát triển đội ngũ cán bộ ngang tầm yêu cầu của một nước phát triển, thu nhập cao.
Về chỉ tiêu, đối với 3 chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030 đang dự kiến mức phấn đấu 90%, cần tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng và chỉ đưa vào Nghị quyết khi xác định rõ số liệu nền, đối tượng, phạm vi áp dụng, phương pháp tính, nguồn dữ liệu và cơ chế kiểm chứng bảo đảm khách quan, đáng tin cậy. Chỉ tiêu phải thực sự phục vụ yêu cầu quản trị, theo dõi tiến độ và tạo chuyển biến thực chất trong công tác cán bộ, không tạo áp lực hình thức, chạy theo thành tích.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu xác định rõ 3 đột phá chiến lược; mỗi đột phá phải đánh trúng khâu yếu, điểm nghẽn và tạo được thay đổi thực chất về cơ chế.
Đột phá thứ nhất là đổi mới căn bản đánh giá, lựa chọn, sử dụng và sàng lọc cán bộ; lấy đánh giá thực sự làm nền tảng của các quyết định cán bộ; nếu đánh giá không đúng thì các khâu sau dù thực hiện đúng quy trình vẫn có thể dẫn đến lựa chọn không đúng người, bố trí không đúng việc, thậm chí để lọt người không đủ phẩm chất, năng lực vào vị trí lãnh đạo, quản lý.
Đổi mới mạnh mẽ cách giao và quản lý nhiệm vụ theo hướng rõ mục tiêu, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực, rõ tiến độ, rõ sản phẩm và rõ căn cứ kiểm chứng. Đánh giá phải thường xuyên, liên tục, đa chiều, có so sánh, phân hoá và gắn với thực tiễn; kết hợp giữa định tính với định lượng; khi đánh giá kết quả phải đặt trong tương quan với thẩm quyền được giao, nguồn lực được bảo đảm, điều kiện thực hiện, mức độ phức tạp và độ khó của nhiệm vụ; kiên quyết khắc phục việc đánh giá theo cảm tính, nể nang, cào bằng, đồng thời không đơn giản hoá việc đánh giá cán bộ theo bảng điểm cơ học.
Kết quả đánh giá cán bộ cần được sử dụng thực chất từ phát hiện, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí, bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật, đãi ngộ và sàng lọc; thực hiện nghiêm túc, công bằng, khách quan, nhân văn với phương châm "có vào, có ra; có lên, có xuống".
Đột phá thứ hai là tạo nguồn, phát triển đội ngũ và trọng dụng nhân tài. Chuyển mạnh từ nguồn khép kín sang nguồn mở, động, nhiều lớp, nhiều phương án; chuẩn bị cán bộ từ sớm, từ xa cho các vị trí trọng yếu, lĩnh vực chiến lược, nhiệm vụ mới và địa bàn khó khăn.
Quy hoạch phải gắn với giao nhiệm vụ, rèn luyện, thử thách và đánh giá qua thực tiễn; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gắn với vị trí việc làm, yêu cầu chức danh và khoảng trống năng lực của từng cán bộ; luân chuyển cán bộ phải rõ mục tiêu; nhiệm vụ cụ thể; thẩm quyền tương ứng; sản phẩm, thời hạn và tiêu chí đánh giá kết quả; khắc phục tình trạng hình thức, chỉ nhằm hoàn thiện điều kiện, hồ sơ phục vụ bổ nhiệm.
Mở rộng mạnh mẽ nguồn cán bộ, thu hút và trọng dụng nhân tài trong và ngoài hệ thống chính trị, trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời bảo đảm cơ chế thẩm định chặt chẽ, khách quan, công khai về phẩm chất, năng lực, uy tín, quá trình công tác và kết quả. Hình thành hai hướng phát triển tương ứng, liên thông giữa cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ chuyên gia, cán bộ chuyên môn sâu; trọng dụng nhân tài bằng giao nhiệm vụ xứng tầm, tạo điều kiện cống hiến, ghi nhận đúng sản phẩm và giá trị đóng góp.
Đột phá thứ ba là hoàn thiện thể chế và quản trị đội ngũ cán bộ dựa trên dữ liệu, trách nhiệm và kiểm soát quyền lực. Hoàn thiện đồng bộ các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm từng cấp, từng chủ thể; giảm chồng chéo, tầng nấc trung gian, thủ tục không cần thiết.
Mỗi quyết định về cán bộ phải xác định rõ trách nhiệm của người đề xuất, người giới thiệu, cơ quan thẩm định, người quyết định và chủ thể theo dõi, đánh giá cán bộ sau khi được bố trí.
Không để xảy ra tình trạng nhiều người tham gia nhưng không rõ ai chịu trách nhiệm cuối cùng hoặc quyết định nhân sự đã được thực hiện nhưng không có cơ chế theo dõi, đánh giá và xử lý trách nhiệm khi kết quả không đạt yêu cầu; phân cấp đến đâu, kiểm soát đến đó; quyền hạn đến đâu, trách nhiệm đến đó.
Cấp trên không làm thay việc đã phân cấp, phân quyền nhưng chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, hậu kiểm, cảnh báo rủi ro. Kiểm soát quyền lực cần phòng ngừa từ sớm, từ xa; không chỉ chống lạm quyền, chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm mà còn khắc phục tình trạng né tránh, không thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm được giao.
Dữ liệu cán bộ phải bảo đảm các tiêu chí đúng, đủ, sạch, sống, an toàn, được cập nhật thường xuyên, liên tục và có cơ chế kiểm chứng, xác thực; phục vụ quản trị, phân tích, dự báo, phát hiện nguồn, theo dõi quá trình phát triển của cán bộ và cảnh báo sớm rủi ro.
Việc ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo phải được thực hiện có trách nhiệm; công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế công tác chính trị, đánh giá phẩm chất, uy tín, thẩm định trực tiếp và trách nhiệm của cấp có thẩm quyền. Công cụ hỗ trợ càng hiện đại, trách nhiệm của con người càng phải rõ.
Thứ ba, rà soát 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp theo hướng tập trung, đồng bộ, khả thi; đặc biệt coi trọng năng lực tổ chức thực hiện.
8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cơ bản cần tiếp tục rà soát, sắp xếp, cấu trúc lại theo hướng trực tiếp phục vụ mục tiêu và 3 đột phá chiến lược; giảm trùng lặp, khắc phục dàn trải, không biến Nghị quyết thành danh mục công việc. Nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung vào các nội dung cốt lõi: Giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, bản lĩnh và đạo đức cán bộ; hoàn thiện thể chế, vị trí việc làm, khung năng lực; đổi mới căn bản công tác đánh giá; tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, sàng lọc; xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, cán bộ cơ sở; phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài; tạo động lực phấn đấu gắn với kiểm soát quyền lực, chuyển đổi số, quản trị dữ liệu; nâng cao chất lượng cơ quan, đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ.
Đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu và cán bộ cơ sở. Cán bộ cấp chiến lược phải tiêu biểu về bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ, tầm nhìn và năng lực kiến tạo; có tư duy hệ thống, có khả năng dự báo, hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện và xử lý những vấn đề lớn, mới, khó, phức tạp, tạo thế và mở đường cho phát triển. Người đứng đầu là hạt nhân quy tụ, trung tâm trách nhiệm, biết phát hiện, lựa chọn, bố trí, trọng dụng người có đức, có tài; dám nghĩ, dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Cán bộ cơ sở phải gần dân, sát dân, hiểu dân, thành thạo công việc; nắm chắc địa bàn, làm chủ công nghệ, dữ liệu, có năng lực quản trị và giải quyết kịp thời vấn đề phát sinh từ cơ sở. Cấp chiến lược có tầm nhìn xa, người đứng đầu phải quyết đúng, cán bộ cơ sở phải làm đến nơi, đến chốn; tất cả đều phải được kiểm nghiệm bằng sản phẩm, kết quả, hiệu quả công việc và sự tín nhiệm của nhân dân.
Chú trọng xây dựng cơ quan và đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, công tâm, khách quan, "trung thành, trung thực, gương mẫu, trong sáng, tinh thông"; nâng cao năng lực nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, dự báo, thẩm định, đánh giá, quản trị nguồn cán bộ và phân tích dữ liệu. Chất lượng tham mưu phải được kiểm chứng bằng chất lượng đội ngũ và chất lượng quyết định cán bộ.
Phân định rõ các tầng thể chế, thẩm quyền và trách nhiệm. Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, định hướng lớn, các đột phá và cơ chế có tính chiến lược. Bộ Chính trị, Ban Bí thư cụ thể hoá những nội dung thuộc thẩm quyền. Đảng uỷ Quốc hội, Đảng uỷ Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo việc thể chế hoá thành pháp luật, chính sách của Nhà nước, nhất là các nội dung về công vụ, vị trí việc làm, tiền lương, thu hút và trọng dụng nhân tài, dữ liệu và điều kiện bảo đảm thực hiện. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng đội ngũ, chất lượng nguồn cán bộ kế cận, tính chính xác và cập nhật của dữ liệu và kết quả công tác cán bộ thuộc phạm vi quản lý.
Kế hoạch thực hiện phải được xây dựng đồng thời với dự thảo Nghị quyết; phải cụ thể hoá từng mục tiêu, nhiệm vụ, sản phẩm, tiến độ, nguồn lực, đầu mối chủ trì, cơ quan phối hợp và trách nhiệm của từng cơ quan, chủ thể; thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá và xử lý trách nhiệm. Những cơ chế mới, khó, phức tạp cần xem xét thí điểm có kiểm soát khi cần thiết; không áp dụng rộng khi chưa được kiểm chứng.

RSS