Tăng trưởng hai con số một cách bền vững, văn hóa là một phần của lời giải

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

VHO - Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu đã thảo luận ở Tổ về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 cùng nhiều nội dung quan trọng khác. Trong dòng chảy thảo luận ấy, một điểm rất đáng chú ý là văn hóa ngày càng được đặt đúng vị trí của mình.

  Tăng trưởng hai con số một cách bền vững, văn hóa là một phần của lời giải - ảnh 1
Thủ tướng Lê Minh Hưng phát biểu tại Tổ trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế, xã hội (sáng 10.4). Ảnh: Q.H

 Không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà văn hóa còn là nguồn lực nội sinh, là sức mạnh mềm, là một trong những động lực mới để đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Văn hóa không còn là phần “nói cho đủ”...

Điều tạo nên cảm giác tin tưởng trong các phiên thảo luận ở Tổ lần này không chỉ là những con số tích cực của năm 2025 và những tháng đầu năm 2026, mà còn là cách Chính phủ đặt vấn đề cho chặng đường năm năm tới. Báo cáo do Thủ tướng Lê Minh Hưng trình bày cho thấy một tầm nhìn phát triển khá rõ: Phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; đến năm 2030, GDP bình quân đầu người đạt 8.500 USD; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP; môi trường đầu tư của Việt Nam phấn đấu vào nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 nước hàng đầu thế giới vào năm 2028.

Đó là những mục tiêu rất cao, nhưng điều quan trọng hơn là báo cáo không chỉ nói về tốc độ, mà còn nhấn mạnh yêu cầu phát triển bền vững, để người dân thực sự được thụ hưởng thành quả phát triển. Chính trong bức tranh ấy, tôi đặc biệt chú ý tới phần nội dung về văn hóa. Đã qua rồi cái thời chúng ta nhìn văn hóa như một lĩnh vực “đi sau”, chỉ xuất hiện sau khi kinh tế đã phát triển đủ mạnh. Trong báo cáo lần này, văn hóa được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển đất nước. Chính phủ xác định rõ yêu cầu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; đồng thời phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, giải trí, kinh tế di sản; nâng cao đời sống văn hóa và thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, các tầng lớp nhân dân. Đó không còn là ngôn ngữ của sự động viên tinh thần đơn thuần, mà là ngôn ngữ của một chiến lược phát triển.

Càng đáng chú ý hơn khi trong phần giải pháp cụ thể, báo cáo đã nêu những việc phải làm ngay trong năm 2026: Hoàn thành Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ chỉ số thống kê công nghiệp văn hóa và cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, nghệ thuật trong quý II; trong quý III hoàn thành Đề án “Văn hóa trong tuân thủ pháp luật”, Đề án phát triển thương hiệu quốc gia về du lịch trên nền tảng văn hóa trong kỷ nguyên mới, cùng kế hoạch đẩy mạnh hội nhập quốc tế về văn hóa Việt Nam; đồng thời tái cấu trúc sản phẩm, dịch vụ du lịch dựa trên bản sắc văn hóa vùng, miền gắn với thị hiếu du khách và xúc tiến chuyên biệt tại các thị trường trọng điểm. Đến quý IV.2026, tiếp tục hoàn thành Đề án định giá kinh tế di sản và Đề án khai thác, phát huy tài sản văn hóa số.

Một báo cáo dám đi đến những công việc cụ thể như vậy cho thấy văn hóa không còn là phần “nói cho đủ”, mà đang dần trở thành một phần việc phải làm, đo được, kiểm đếm được và chịu trách nhiệm thực hiện. Nhìn rộng hơn, cách tiếp cận ấy cũng rất thống nhất với tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW. Nghị quyết này không chỉ khẳng định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết cho phát triển bền vững, mà còn đặt ra mục tiêu rất cụ thể: Các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045. Khi mục tiêu ấy được đặt song hành với kế hoạch tăng trưởng hai con số của cả nền kinh tế, có thể thấy rất rõ một yêu cầu mới, muốn đất nước phát triển nhanh và bền vững, không thể chỉ dựa vào vốn, công nghệ hay hạ tầng, mà phải khơi thông thêm một nguồn lực lớn khác là sức mạnh văn hóa.

Phát triển năng lực “kể chuyện” quốc gia

Nhưng nếu nói đến công nghiệp văn hóa mà chỉ dừng ở những khái niệm lớn thì chưa đủ. Điều cần nhấn mạnh hơn trong giai đoạn 2026 – 2030 là phát triển năng lực “kể chuyện” quốc gia. Một quốc gia hiện đại không chỉ được nhận diện bởi tốc độ tăng trưởng hay quy mô xuất khẩu, mà còn bởi khả năng kể được câu chuyện của mình với thế giới bằng những hình thức hấp dẫn, giàu cảm xúc, thuyết phục và có sức lan tỏa. Kể chuyện quốc gia không phải là khẩu hiệu tuyên truyền.

Đó là việc để âm nhạc kể câu chuyện Việt Nam bằng giai điệu và cảm xúc; để điện ảnh kể câu chuyện Việt Nam bằng hình ảnh và số phận con người; để thời trang kể câu chuyện Việt Nam bằng chất liệu, đường nét, phong cách; để ẩm thực kể câu chuyện Việt Nam bằng ký ức, địa phương tính và triết lý sống; để du lịch văn hóa kể câu chuyện Việt Nam bằng trải nghiệm sống động, chứ không phải bằng những bản giới thiệu khô cứng. Khi kể chuyện được bằng văn hóa, đất nước sẽ bước ra thế giới với gương mặt riêng, giọng nói riêng và sức hút riêng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những quốc gia thành công trong phát triển công nghiệp văn hóa đều là những quốc gia biết kể câu chuyện của mình một cách nhất quán và hiện đại. Hàn Quốc là ví dụ điển hình. Từ K-pop đến phim ảnh, từ ẩm thực đến mỹ phẩm, từ webtoon đến game, Hàn Quốc không chỉ xuất khẩu sản phẩm, mà xuất khẩu cả cảm hứng sống, thẩm mỹ và hình ảnh quốc gia. Reuters dẫn số liệu cho thấy xuất khẩu tài sản trí tuệ trong các lĩnh vực giải trí của Hàn Quốc đã tăng hơn gấp ba lần trong một thập niên, đạt 9,85 tỉ USD vào năm 2024; chính quyền mới của nước này còn đặt mục tiêu đưa Hàn Quốc thành một trong Top 5 quyền lực mềm vào năm 2030, với năm trụ cột nổi bật là âm nhạc, phim truyền hình, webtoon, mỹ phẩm và ẩm thực. Điều đáng học ở đây không phải là sao chép mô hình Hàn Quốc, mà là cách họ kết nối chính sách công, doanh nghiệp sáng tạo, nền tảng số và chiến lược thương hiệu quốc gia thành một hệ sinh thái đồng bộ.

Nhật Bản cũng cho chúng ta một bài học khác. Sức mạnh của Nhật không chỉ đến từ công nghiệp chế tạo, mà còn đến từ khả năng chuyển văn hóa đại chúng thành một ngành công nghiệp toàn cầu. Hiệp hội Hoạt hình Nhật Bản đã công bố Báo cáo Công nghiệp Anime 2025, tiếp tục cho thấy quy mô và sức sống mạnh mẽ của ngành anime trong cấu trúc công nghiệp sáng tạo của nước này. Đằng sau anime không chỉ là phim hoạt hình, mà là cả một hệ sinh thái gồm xuất bản, âm nhạc, hàng hóa ăn theo, du lịch, sự kiện, trò chơi và bản quyền toàn cầu. Nhật Bản đã chứng minh rằng khi một quốc gia kể được câu chuyện của mình bằng biểu tượng văn hóa có sức nhận diện cao, thì giá trị gia tăng không nằm trong một ngành đơn lẻ, mà lan sang rất nhiều ngành khác.

Thái Lan lại đang đi theo một hướng khá gần với điều Việt Nam có thể suy nghĩ. Thông qua các diễn đàn và chiến lược quyền lực mềm gần đây, Thái Lan xác định rõ nhiều lĩnh vực sáng tạo là động lực phát triển, trong đó có âm nhạc, điện ảnh, thời trang, ẩm thực và du lịch văn hóa. Cơ quan truyền thông chính thức của Chính phủ Thái Lan cho biết Diễn đàn quyền lực mềm 2025 của nước này giới thiệu 14 ngành công nghiệp sáng tạo ra thế giới, bao gồm cả thời trang, ẩm thực Thái và du lịch văn hóa. Điều đó cho thấy họ không xem ẩm thực hay du lịch chỉ là dịch vụ, mà là phương tiện định vị hình ảnh quốc gia. Đây là điều Việt Nam rất nên suy ngẫm, bởi chúng ta cũng có một kho tàng vô cùng phong phú về di sản, món ăn, làng nghề, lễ hội, âm nhạc dân gian và không gian sống bản địa. Vấn đề của chúng ta không phải là thiếu chất liệu, mà là thiếu một cách kể chuyện đủ mới, đủ tinh tế và đủ sức cạnh tranh quốc tế.

Các tổ chức quốc tế về du lịch cũng đã nhấn mạnh mối liên hệ ngày càng chặt chẽ giữa văn hóa, ẩm thực, du lịch và phát triển bền vững. Tổ chức Du lịch Thế giới xem du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà động cơ cốt lõi của du khách là học hỏi, khám phá, trải nghiệm và tiêu dùng các sản phẩm, giá trị văn hóa hữu hình và vô hình của điểm đến; đồng thời nhấn mạnh du lịch ẩm thực có khả năng đặc biệt trong việc đóng góp cho tăng trưởng du lịch bền vững. Điều này rất có ý nghĩa với Việt Nam. Bởi nếu chúng ta biết biến một làn điệu dân ca thành một trải nghiệm, một món ăn thành một câu chuyện, một làng nghề thành một không gian sáng tạo, một di tích thành một hành trình cảm xúc, thì giá trị tạo ra sẽ lớn hơn nhiều so với việc chỉ bán vé tham quan hay bán dịch vụ đơn thuần.

Vì thế, từ các phiên thảo luận ở Tổ về tình hình kinh tế - xã hội và chỉ tiêu 5 năm 2026 – 2030, có thể rút ra một gợi mở rất quan trọng: Nếu muốn đi đến tăng trưởng hai con số một cách bền vững, Việt Nam cần coi văn hóa là một phần của lời giải, chứ không phải một phần việc bên lề. Muốn vậy, phải tiếp tục hoàn thiện thể chế cho công nghiệp văn hóa; sớm xây dựng được hệ thống thống kê đáng tin cậy; mạnh dạn đầu tư cho hạ tầng sáng tạo và thị trường nội dung số; có chính sách bản quyền, thuế, quỹ đầu tư, đào tạo nhân lực thật sự phù hợp; đồng thời hỗ trợ các địa phương biết kể câu chuyện của mình một cách chuyên nghiệp hơn. Không chỉ Hà Nội, Huế, Hội An hay TP.HCM, mà từng tỉnh, từng vùng, từng cộng đồng đều có thể trở thành một “người kể chuyện” cho đất nước, nếu được trao công cụ và không gian phát triển đúng mức.