Nhìn lại 13 kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam
VHO - Trải qua hơn 95 năm ra đời, lãnh đạo và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức thành công 13 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc. Mỗi kỳ Đại hội là một mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam, ghi dấu những thắng lợi to lớn, những thành tựu quan trọng và những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1. Đại hội lần thứ I (1935)
Đại hội họp tại một địa điểm ở Phố Quan Công (Ma Cao, Trung Quốc), từ ngày 27 đến ngày 31.3.1935, với sự tham dự của 13 đại biểu đại diện cho các Đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng ở nước ngoài.
Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị của Đảng cùng các nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính; về mặt trận phản đế, đội tự vệ, công tác dân tộc và Điều lệ Đảng.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 ủy viên, đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Ban Chấp hành Trung ương cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc làm đại diện của Đảng Cộng sản Đông Dương bên cạnh Quốc tế Cộng sản.
2. Đại hội lần thứ II (1951)
Đại hội họp từ ngày 11-19.2.1951 tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, với 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, đại diện cho hơn 766.000 đảng viên trong cả nước. Đại hội vinh dự đón đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Thái Lan.
Đại hội quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam; thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng; bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Đảng là đồng chí Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư là đồng chí Trường Chinh.
3. Đại hội lần thứ III (1960)
Đại hội diễn ra tại Hà Nội từ ngày 5 - 12.9.1960, với 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, đại diện cho hơn 500.000 đảng viên cả nước. Gần 20 đoàn đại biểu các đảng và tổ chức công nhân quốc tế tham dự Đại hội.
Đại hội xác định nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà; thông qua phương hướng, nhiệm vụ Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và Điều lệ Đảng sửa đổi.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được bầu làm Chủ tịch Đảng; đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.
4. Đại hội lần thứ IV (1976)
Đại hội họp từ ngày 14 - 20.12.1976 tại Hà Nội, với 1.008 đại biểu đại diện cho hơn 1,55 triệu đảng viên của 38 đảng bộ tỉnh, thành phố và cơ quan trực thuộc trung ương trong cả nước.
Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Điều lệ mới; bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc; là đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là đại hội thống nhất Tổ quốc đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.
5. Đại hội lần thứ V (1982)
Đại hội họp từ ngày 27 - 31.3.1982 tại Hà Nội, với 1.033 đại biểu đại diện cho hơn 1,7 triệu đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở. Trong số đại biểu đó có 14 đảng viên đã từng tham gia các tổ chức tiền thân của Đảng.
Đại hội đã khẳng định tiếp tục thực hịên đường lối cách mạng XHCN và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN của Đại hội lần thứ IV, vạch ra chiến lược kinh tế xã hội và những chủ trương, chính sách, biện pháp thích hợp trong từng chặng đường.
Đại hội đã thông qua Điều lệ sửa đổi của Đảng và bầu ra BCH TW Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết. Tổng Bí thư là đồng chí Lê Duẩn.
6. Đại hội lần thứ VI (1986)
Đại hội họp từ ngày 15 - 18.12.1986 tại Hà Nội, với 1.129 đại biểu đại diện cho gần 1,9 triệu đảng viên. Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới toàn diện công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết; đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm làm Cố vấn cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội VI được ghi nhận là Đại hội Đổi mới.
Đại hội lần thứ VII (1991)
Đại hội họp từ ngày 24 - 27.6.1991 tại Hội trường Ba Đình (Hà Nội), với 1.176 đại biểu đại diện cho hơn 2 triệu đảng viên.
Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000; Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng; Điều lệ Đảng (sửa đổi).
Đại hội bầu ra BCH TW khoá VII gồm 146 uỷ viên, đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư BCH TW Đảng. Thành công của đại hội đánh dấu bước trưởng thành mới của Đảng, cột mốc mới trong tiến trình cách mạng Việt Nam, là “Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết”.
8. Đại hội lần thứ VIII (1996)
Đại hội họp từ ngày 28.6 - 01.7.1996 tại Hà Nội, với 1.198 đại biểu thay mặt cho hơn 2 triệu đảng viên. Đại hội thông qua Điều lệ Đảng sửa đổi; bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 170 ủy viên chính thức.
Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã bầu Bộ Chính trị gồm 19 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng là các đồng chí: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân ta, vì tình hữu nghị và sự hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc và tương lai của đất nước vào lúc chúng ta sắp bước vào thế kỷ XXI.
9. Đại hội lần thứ IX (2001)
Đại hội họp từ ngày 19 - 22.4.2001 tại Thủ đô Hà Nội, với 1.168 đại biểu đại diện cho gần 2,5 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX gồm 150 ủy viên. Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất đã bầu Bộ Chính trị gồm 15 ủy viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội IX của Đảng là Đại hội của “trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới”, là Đại hội mở đầu cho thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới của dân tộc.
10. Đại hội lần thứ X (2006)
Đại hội họp từ ngày 18 - 25.4.2006 tại Hà Nội, với 1.176 đại biểu đại diện cho hơn 3,1 triệu đảng viên cả nước.
Đại hội đã tổng kết 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986–2006), tiếp tục khẳng định đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ đề Đại hội là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.”
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất đã bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
11. Đại hội lần thứ XI (2011)
Đại hội họp từ ngày 12 - 19.1.2011 tại Hà Nội, với 1.377 đại biểu đại diện cho hơn 3,6 triệu đảng viên trong cả nước.
Đại hội XI đã tổng kết 25 năm đổi mới (1986–2011), tiếp tục khẳng định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chủ đề Đại hội XI là: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.”
Đại hội đã thảo luận sôi nổi, dân chủ và nhất trí thông qua các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước ta.
Tại Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI gồm 175 ủy viên chính thức, 25 ủy viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
12. Đại hội lần thứ XII (2016)
Thời gian: 20 - 28.1.2016 tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.510 đại biểu, đại diện cho hơn 4,5 triệu đảng viên trên cả nước.
Đại hội XII đã tổng kết 30 năm đổi mới (1986–2016); kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI; quyết định phương hướng, mục tiêu nhiệm kỳ 2016–2021.
Chủ đề Đại hội là: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.”
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 200 đồng chí, trong đó có 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 19 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được Đại hội tín nhiệm bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
13. Đại hội lần thứ XIII (2021)
Đại hội họp từ ngày 26.1 - 1.2.2021 tại Thủ đô Hà Nội, với 1.587 đại biểu đại diện cho hơn 5 triệu đảng viên trong cả nước.
Đại hội XIII đã đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển đất nước và việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII (2016–2020); đề ra mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước giai đoạn 2021–2025 và định hướng phát triển đến năm 2045, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá mới gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Ủy viên chính thức, 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết. Tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã họp để bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được tín nhiệm bầu tiếp tục giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
Ngày 19.7.2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp ngày 3.8.2024, đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII.

RSS