Làm sâu sắc hơn nội hàm, bản chất của công nghiệp văn hóa
VHO - Đại biểu Quốc hội Trần Văn Lâm đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, làm sâu sắc hơn nội hàm, bản chất của công nghiệp văn hóa để hoàn thiện các chính sách theo hướng phát huy sức sáng tạo của con người, khơi thông các nguồn lực văn hóa, thúc đẩy hình thành những sản phẩm có giá trị, có thương hiệu và sức cạnh tranh.
Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
Làm rõ nội hàm công nghiệp văn hóa
Góp ý vào dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Trần Văn Lâm (Đoàn ĐBQH TP. Bắc Ninh) bày tỏ đồng tình, thống nhất cao với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Đại biểu đánh giá cao tinh thần chủ động, trách nhiệm và nỗ lực của Chính phủ, Bộ VHTTDL cùng các cơ quan liên quan trong quá trình nghiên cứu, xây dựng dự án Luật.
Mặc dù thời gian chuẩn bị ngắn, phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với nhiều chính sách mới, nhưng hồ sơ dự án Luật đã được chuẩn bị công phu, có nghiên cứu, đánh giá thực trạng, rà soát hệ thống pháp luật, tiếp thu các ý kiến thẩm tra, góp ý và từng bước hoàn thiện các cơ chế, chính sách.
ĐBQH Trần Văn Lâm cho rằng, dự thảo đã thể hiện sự đổi mới trong tư duy về vị trí, vai trò của văn hóa đối với phát triển đất nước, khi nhìn nhận văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực phát triển mà còn đi sâu khai thác giá trị văn hóa, tạo giá trị kinh tế, nguồn thu và sức mạnh mềm quốc gia.
Theo đại biểu Trần Văn Lâm, thực tế nhiều lĩnh vực văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, quảng cáo, thiết kế, trò chơi điện tử, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa và các sản phẩm nội dung số ngày càng gắn với hoạt động đầu tư, kinh doanh và thị trường.
Nhiều sản phẩm văn hóa không chỉ có giá trị tinh thần mà còn tạo doanh thu, việc làm, đóng góp cho tăng trưởng và quảng bá hình ảnh đất nước.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy không ít khó khăn về nguồn vốn, thị trường, nhân lực, hạ tầng, quyền sở hữu trí tuệ và khả năng thương mại hóa sản phẩm sáng tạo. Trong khi đó, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu điều chỉnh theo từng lĩnh vực riêng lẻ, còn hoạt động công nghiệp văn hóa có tính liên ngành, liên kết cao.
Đại biểu ghi nhận dự thảo đã bước đầu tiếp cận những vấn đề này thông qua các chính sách về phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong quan hệ tín dụng, đầu tư mạo hiểm, thu hút nhân tài, phát triển thị trường và chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư.
Đây là những chính sách mới, có tính kiến tạo, thể hiện tinh thần chuyển tư duy từ quản lý sang tạo điều kiện khơi thông và hỗ trợ nguồn lực phát triển.

Tuy nhiên, đại biểu Trần Văn Lâm cho rằng cần làm rõ bản chất và nội hàm của khái niệm “công nghiệp văn hóa”. Theo đại biểu, đây không đơn thuần là vấn đề giải thích một thuật ngữ mà có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định phạm vi điều chỉnh, mục tiêu phát triển, đối tượng ưu tiên và thiết kế toàn bộ chính sách của Luật.
Tại khoản 1 Điều 2 của dự thảo có quy định: “Công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế tạo ra các sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ”. Đại biểu cơ bản đồng tình với cách tiếp cận này, nhưng đề nghị nghiên cứu làm rõ thêm nội hàm.
Theo đó, nếu hiểu công nghiệp văn hóa là đưa văn hóa trở thành một ngành sản xuất, tạo ra giá trị vật chất và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thì cách hiểu này đúng nhưng chưa đầy đủ. Sản phẩm công nghiệp văn hóa không nhất thiết là sản phẩm vật chất hữu hình. Một tác phẩm âm nhạc, bộ phim, trò chơi điện tử hay thiết kế sáng tạo có thể tạo ra giá trị kinh tế rất lớn mà không cần sản xuất nhiều sản phẩm vật chất.
Hơn nữa, nếu chỉ hiểu công nghiệp văn hóa là thương mại hóa các hoạt động văn hóa để tạo doanh thu, lợi nhuận thì có thể dẫn đến cách tiếp cận thiên lệch, coi hiệu quả kinh tế là mục tiêu duy nhất, trong khi văn hóa còn mang những giá trị tinh thần, thẩm mỹ, giáo dục, bản sắc và giá trị xã hội không thể đo đếm đầy đủ bằng tiền.
Đại biểu cũng cho rằng, nếu hiểu công nghiệp văn hóa là đưa công nghệ, kỹ thuật và phương thức tổ chức, quản trị công nghiệp vào hoạt động văn hóa để nâng cao năng suất, mở rộng quy mô và đẩy nhanh tốc độ sáng tạo, sản xuất sản phẩm văn hóa thì cách hiểu này cũng đúng nhưng mới phản ánh phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh.
Dẫn ví dụ từ một bộ phim, đại biểu Trần Văn Lâm cho rằng quá trình hình thành sản phẩm có thể bao gồm ý tưởng, kịch bản, đạo diễn, diễn viên, kỹ thuật sản xuất, công nghệ hậu kỳ, phân phối, quảng bá và khai thác bản quyền trên các nền tảng khác nhau.
Trong đó, công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất hiện đại giúp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường, gia tăng hiệu quả kinh tế, nhưng giá trị cốt lõi của bộ phim vẫn bắt nguồn từ tài năng, sức sáng tạo và chất lượng nội dung nghệ thuật.
Đặc biệt, theo đại biểu, công nghiệp hóa hoạt động văn hóa không đồng nghĩa với công nghiệp hóa bản thân sự sáng tạo nghệ thuật, bởi sáng tạo có tính độc đáo, tính cá nhân và không thể hoàn toàn tiêu chuẩn hóa như sản xuất hàng hóa thông thường.
Từ đó, đại biểu Trần Văn Lâm đề nghị tiếp cận công nghiệp văn hóa với nội hàm đầy đủ hơn: “đó là một lĩnh vực kinh tế đặc thù, lấy văn hóa, tri thức, tài năng sáng tạo và tài sản trí tuệ làm nguồn lực chủ yếu; thông qua tổ chức sản xuất, công nghệ, quản trị và thị trường để tạo ra, phân phối, khai thác các sản phẩm, dịch vụ, đồng thời tạo ra giá trị kinh tế, giá trị văn hóa và giá trị xã hội”.
Theo đại biểu, trong cách tiếp cận này, văn hóa là nguồn lực; sáng tạo là động lực; công nghệ, quản trị và thị trường là phương thức; còn giá trị kinh tế, văn hóa và xã hội là những kết quả cần hướng tới.
Văn hóa và sáng tạo là những yếu tố mang tính bản chất; công nghệ là công cụ, phương thức; quyền sở hữu trí tuệ là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo vệ và khai thác thành quả sáng tạo.
Đại biểu vì vậy đề nghị cân nhắc hoàn thiện khái niệm tại khoản 1 Điều 2 theo hướng: “Công nghiệp văn hóa là các ngành kinh tế lấy văn hóa, sức sáng tạo và tài sản trí tuệ làm nguồn lực chủ yếu để tạo ra, sản xuất, phân phối và khai thác các sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế và giá trị văn hóa, xã hội”.
Phát triển công nghiệp văn hóa phải lấy sáng tạo làm trọng tâm
Đại biểu Trần Văn Lâm cho rằng, việc làm rõ khái niệm công nghiệp văn hóa có ý nghĩa đối với việc xác định trọng tâm phát triển, đối tượng và trọng tâm của chính sách hỗ trợ, ưu đãi, cũng như bảo đảm sự hài hòa giữa mục tiêu kinh tế với mục tiêu phát triển văn hóa và con người.
Về trọng tâm phát triển, theo đại biểu, cần phát huy vai trò của con người sáng tạo, phát triển sản phẩm văn hóa, tài sản trí tuệ, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
Không nên đồng nhất phát triển công nghiệp văn hóa với việc xây dựng nhiều công trình, thiết chế, khu, cụm hay tổ hợp công nghiệp sáng tạo. Hạ tầng và công nghệ là điều kiện quan trọng, nhưng sản phẩm sáng tạo có giá trị và khả năng đóng góp thực chất mới là kết quả cần hướng tới.
Về chính sách hỗ trợ, ưu đãi, đại biểu cho rằng cần xác định đúng đối tượng, trọng tâm của chính sách hỗ trợ, ưu đãi. Không phải mọi hoạt động kinh doanh thuộc các ngành được liệt kê trong dự thảo đều đương nhiên cần hưởng chính sách ưu đãi đặc thù.
Theo đại biểu, chính sách cần hướng vào những hoạt động thực sự tạo ra, phát triển, khai thác giá trị văn hóa và tài sản trí tuệ. Đặc biệt chú trọng các nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh, làng nghề và các cộng đồng đang trực tiếp gìn giữ, sáng tạo những giá trị văn hóa đặc sắc.
Đại biểu cho rằng, đây là cơ sở để tiếp tục rà soát các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, ngân sách theo hướng có trọng tâm, đúng đối tượng, hiệu quả, tránh dàn trải hoặc bị lợi dụng.
Đại biểu cũng cho rằng cần bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu kinh tế với mục tiêu phát triển văn hóa và con người.
Đại biểu nhấn mạnh phát triển công nghiệp văn hóa không có nghĩa là thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá. Đặc biệt, đối với di sản, làng nghề truyền thống, tri thức bản địa và văn hóa các dân tộc thiểu số, việc khai thác giá trị kinh tế phải đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc và bảo đảm lợi ích chính đáng của cộng đồng.
Theo đại biểu Trần Văn Lâm, đây là nét đặc thù rất quan trọng của công nghiệp văn hóa, cần được quán triệt xuyên suốt trong quan điểm và các chính sách của Luật.
Đại biểu Trần Văn Lâm đánh giá cao những kết quả bước đầu trong nghiên cứu, xây dựng dự án Luật, cả về thể chế hóa các chủ trương của Đảng, nhận diện những yêu cầu thực tiễn cũng như đề xuất các chính sách mạnh mẽ, có tính kiến tạo, đột phá.
Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, làm sâu sắc hơn nội hàm, bản chất của công nghiệp văn hóa để hoàn thiện các chính sách theo hướng phát huy sức sáng tạo của con người, khơi thông các nguồn lực văn hóa, thúc đẩy hình thành những sản phẩm có giá trị, có thương hiệu và sức cạnh tranh, để văn hóa được tiếp tục sáng tạo, gìn giữ, phát huy và lan tỏa mạnh mẽ hơn, đóng góp thiết thực vào sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

RSS