Quyết liệt triển khai chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm:
Khoa học xã hội và nhân văn là nền tảng tri thức cho sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam
VHO - Sáng 25.5, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì cuộc làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cho ý kiến về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản phục vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, có thể thấy một thông điệp rất quan trọng: Muốn đất nước phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và có bản sắc, không chỉ cần khoa học tự nhiên, công nghệ lõi, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, mà còn cần một nền khoa học xã hội và nhân văn đủ mạnh để cung cấp luận cứ cho đường lối, thể chế, văn hóa, con người, mô hình phát triển và sức mạnh mềm quốc gia.

Nền tảng sâu thẳm của năng lực phát triển quốc gia
Trong nhiều năm, khi nói đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chúng ta thường nghĩ nhiều hơn đến phòng thí nghiệm, công nghệ lõi, sáng chế, thiết bị, dây chuyền sản xuất, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học hay chuyển đổi số. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Một quốc gia muốn đi nhanh cần công nghệ; nhưng muốn đi xa, đi bền vững, đi bằng bản lĩnh của chính mình, thì phải có nền tảng tri thức về xã hội, văn hóa, con người, lịch sử, thể chế, giá trị và mô hình phát triển.
Điểm rất đáng chú ý trong kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là sự định vị lại vai trò của khoa học cơ bản nói chung và khoa học xã hội, nhân văn nói riêng. Khoa học cơ bản không còn được nhìn như hoạt động học thuật chuyên sâu, khép kín trong các viện, trường, mà là “nền móng tri thức của quốc gia”, là cơ sở để hình thành năng lực dự báo chiến lược, hoạch định chính sách, tự chủ phát triển và nâng cao vị thế quốc gia trong thế kỷ XXI.
Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: Khoa học xã hội và nhân văn “không tạo ra sản phẩm để bán trên thị trường như một số lĩnh vực công nghệ”, nhưng tạo ra “tri thức nền, luận cứ chính sách, mô hình quản trị, hệ giá trị văn hóa, năng lực dự báo và sức mạnh mềm quốc gia”.
Đây là cách nhìn rất sâu sắc, bởi nó chạm đến bản chất của phát triển. Không phải mọi giá trị quan trọng đều có thể đo ngay bằng giá bán, doanh thu hay lợi nhuận. Có những giá trị không xuất hiện tức thì trên thị trường, nhưng lại quyết định chiều sâu, sự ổn định và sức sống lâu dài của một dân tộc.
Một xã hội có thể mua thiết bị hiện đại, tiếp nhận công nghệ tiên tiến, thuê chuyên gia nước ngoài, nhưng không thể nhập khẩu nguyên vẹn một mô hình phát triển phù hợp với lịch sử, văn hóa, tâm lý, cấu trúc xã hội và khát vọng của chính mình. Mỗi quốc gia phải tự trả lời câu hỏi: Mình là ai, mình muốn trở thành quốc gia như thế nào, con người mà mình hướng tới là con người ra sao, giá trị nào cần được gìn giữ, giá trị nào cần được bồi đắp và phát triển đến đâu thì vẫn không đánh mất căn cốt văn hóa của dân tộc.
Ở đó, khoa học xã hội và nhân văn giữ vai trò đặc biệt. Đó là khoa học của con người, vì con người và hướng tới con người. Đó là lĩnh vực giúp chúng ta hiểu sâu hơn về lịch sử dân tộc, cấu trúc văn hóa, biến đổi xã hội, tâm lý cộng đồng, niềm tin xã hội, gia đình, giáo dục, đạo đức, lối sống, truyền thông, đô thị hóa, di cư, già hóa dân số, xã hội số, kinh tế số, văn hóa số. Đó cũng là lĩnh vực cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối, hoàn thiện pháp luật, hoạch định chính sách công, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố đồng thuận xã hội, phát triển con người Việt Nam toàn diện và xây dựng hệ giá trị quốc gia trong thời kỳ mới.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh, mà là tăng trưởng có chất lượng, có bản sắc, có chiều sâu văn hóa, có năng lực tự chủ và có khả năng đóng góp vào văn minh nhân loại. Nếu thiếu khoa học xã hội và nhân văn, phát triển rất dễ rơi vào tình trạng lệch pha: Kinh tế tăng nhưng niềm tin xã hội giảm; đô thị mở rộng nhưng ký ức văn hóa phai nhạt; công nghệ phát triển nhưng đạo đức số, trách nhiệm xã hội, năng lực thích ứng của con người chưa theo kịp; hội nhập sâu nhưng bản sắc chưa đủ mạnh để đối thoại bình đẳng với thế giới.
Vì thế, đặt khoa học xã hội và nhân văn vào trung tâm của chiến lược nghiên cứu cơ bản cũng chính là đặt văn hóa và con người vào trung tâm của phát triển. Đó là một sự trở về đúng hướng: Phát triển không chỉ để có nhiều của cải hơn, mà để con người sống tốt hơn, xã hội nhân văn hơn, quốc gia có bản lĩnh hơn và dân tộc có vị thế xứng đáng hơn.
Cần mạnh về thể chế, văn hóa và con người
Một trong những thông điệp quan trọng nhất từ cuộc họp là yêu cầu phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, công nghệ nền tảng với khoa học xã hội và nhân văn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nền tảng cho năng lực sản xuất và công nghệ quốc gia, thì khoa học xã hội và nhân văn tạo nền tảng cho năng lực lãnh đạo, quản trị, xây dựng thể chế, phát triển văn hóa và con người; không thể phát triển nhanh và bền vững nếu chỉ mạnh về công nghệ mà yếu về thể chế, văn hóa, con người và năng lực quản trị xã hội.
Đây là nhận định có ý nghĩa định hướng rất lớn. Trong thế giới hôm nay, công nghệ đang thay đổi nhanh hơn khả năng thích ứng của nhiều thiết chế xã hội. Trí tuệ nhân tạo đặt ra những vấn đề chưa từng có về đạo đức, quyền riêng tư, việc làm, giáo dục, sáng tạo, bản quyền, an ninh dữ liệu và cả bản sắc văn hóa. Kinh tế số mở ra những mô hình tăng trưởng mới, nhưng cũng tạo ra khoảng cách số, bất bình đẳng mới và những thách thức về quản trị. Truyền thông xã hội mở rộng quyền biểu đạt, nhưng cũng làm gia tăng tin giả, thao túng cảm xúc, cực đoan hóa nhận thức, khủng hoảng niềm tin. Đô thị hóa tạo động lực kinh tế, nhưng nếu thiếu nền tảng văn hóa, rất dễ làm đứt gãy ký ức cộng đồng, phá vỡ không gian di sản và làm con người trở nên cô đơn trong chính nơi mình sống.
Những vấn đề ấy không thể giải quyết chỉ bằng công nghệ. Công nghệ có thể cung cấp công cụ, nhưng khoa học xã hội và nhân văn giúp trả lời câu hỏi: Công cụ
ấy phục vụ ai, phục vụ mục tiêu nào, giới hạn đạo đức ở đâu, tác động xã hội thế nào và cần thiết kế thể chế ra sao để công nghệ trở thành động lực nhân văn thay vì tạo thêm rủi ro cho con người?
Đối với lĩnh vực văn hóa, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt. Văn hóa không chỉ là di sản, lễ hội, nghệ thuật hay những hoạt động biểu diễn. Văn hóa là hệ điều tiết phát triển, là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh mềm quốc gia, là năng lực làm cho một dân tộc được nhận diện, được tôn trọng và có khả năng đóng góp những giá trị riêng cho thế giới. Muốn phát triển văn hóa, không thể chỉ dựa vào cảm tính hay kinh nghiệm quản lý hành chính. Chúng ta cần những nghiên cứu sâu về hành vi văn hóa, tiêu dùng văn hóa, kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa, thị trường nghệ thuật, bản quyền, văn hóa số, văn hóa đô thị, văn hóa gia đình, văn hóa học đường, văn hóa công vụ, văn hóa doanh nghiệp và hình ảnh quốc gia trong truyền thông quốc tế.
Một chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa chẳng hạn, không thể chỉ bắt đầu từ việc xây nhà hát, rạp chiếu phim, trung tâm biểu diễn hay khu sáng tạo. Nó cần bắt đầu từ hiểu biết khoa học về thị trường, công chúng, bản quyền, nguồn nhân lực sáng tạo, chuỗi giá trị, công nghệ phân phối, năng lực kể chuyện quốc gia và cơ chế liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nghệ sĩ, cộng đồng. Một chính sách bảo tồn di sản cũng không thể chỉ dừng ở trùng tu di tích, lập hồ sơ hay tổ chức lễ hội. Nó cần hiểu mối quan hệ giữa di sản và sinh kế, giữa cộng đồng và thị trường, giữa ký ức và phát triển, giữa bảo tồn và sáng tạo, giữa bản sắc địa phương và sức hấp dẫn toàn cầu.
Chính vì vậy, khoa học xã hội và nhân văn phải được coi là một bộ phận cấu thành của năng lực quản trị văn hóa quốc gia. Không có nghiên cứu đủ sâu, chính sách dễ rơi vào phong trào. Không có dữ liệu xã hội đáng tin cậy, quản lý dễ dựa vào cảm nhận chủ quan. Không có phản biện khoa học, thể chế dễ chậm thích ứng với thực tiễn. Không có dự báo chiến lược, văn hóa dễ bị động trước những biến đổi của công nghệ, thị trường và đời sống xã hội.
Điều đáng mừng là trong kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, yêu cầu xây dựng dữ liệu khoa học và dữ liệu xã hội quốc gia được đặt ra rất cụ thể, trong đó có dữ liệu về dân số, lao động, gia đình, văn hóa, niềm tin xã hội, truyền thông số, ngôn ngữ, di sản và các bộ điều tra xã hội dài hạn. Đây chính là hạ tầng tri thức không thể thiếu để quản trị quốc gia hiện đại. Trong thời đại AI, dữ liệu không chỉ là tài nguyên kỹ thuật, mà còn là ký ức xã hội, là năng lực nhận diện chính mình, là điều kiện để hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng.
Với ngành Văn hóa, đây có thể là một bước ngoặt. Nếu chúng ta có kho dữ liệu văn hóa - ngôn ngữ - di sản số, có các điều tra dài hạn về nhu cầu hưởng thụ văn hóa, hành vi sáng tạo, thị trường nghệ thuật, sự tham gia văn hóa của các nhóm xã hội, tác động của nền tảng số đến lối sống, thì chính sách văn hóa sẽ có cơ sở vững chắc hơn, thiết kế trúng hơn, đánh giá được tác động rõ hơn. Khi ấy, văn hóa không còn chỉ được nhìn như lĩnh vực cần được chăm lo, mà trở thành nguồn lực được đo lường, phân tích, kích hoạt và phát huy bằng tri thức hiện đại.
Cần một cơ chế đặc thù để cất cánh
Để khoa học xã hội và nhân văn phát huy đúng vai trò chiến lược, điều quan trọng là phải có cơ chế phù hợp với đặc thù của lĩnh vực này. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ rõ yêu cầu “tránh tư duy thương mại hóa hoặc áp dụng máy móc các tiêu chí đánh giá không phù hợp” đối với khoa học xã hội và nhân văn; đồng thời nhấn mạnh Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo vì sản phẩm chủ yếu của lĩnh vực này là tri thức nền, luận cứ chính sách, dữ liệu xã hội, mô hình quản trị, giá trị văn hóa và phát triển con người, không phải hàng hóa thương mại thông thường.
Đây là vấn đề rất thực tiễn. Lâu nay, trong quản lý khoa học, chúng ta có lúc còn lúng túng khi đánh giá đóng góp của khoa học xã hội và nhân văn. Nếu áp dụng máy móc tiêu chí của khoa học công nghệ theo nghĩa hẹp, như bằng sáng chế, sản phẩm thương mại, doanh thu chuyển giao, thì sẽ không đo đúng giá trị của một công trình nghiên cứu về hệ giá trị quốc gia, văn hóa gia đình, chính sách dân tộc, biến đổi tôn giáo, quản trị đô thị, đạo đức công vụ, mô hình phát triển địa phương hay sức mạnh mềm quốc gia. Những nghiên cứu ấy có thể không tạo ra một sản phẩm bán được ngay, nhưng lại có thể giúp tránh một chính sách sai, thiết kế một thể chế đúng, giải quyết một xung đột xã hội, bảo vệ một di sản quý, nâng cao niềm tin cộng đồng, củng cố nền tảng tư tưởng và định hướng phát triển con người trong nhiều thập niên.
Vì thế, cần mạnh dạn xây dựng cơ chế tài chính đặc thù cho khoa học xã hội và nhân văn. Cơ chế đó phải có ngân sách nền ổn định cho các hướng nghiên cứu dài hạn; có đặt hàng chính sách từ các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương; có đầu tư cho dữ liệu xã hội, điều tra định kỳ, thư viện số, số hóa di sản, cơ sở dữ liệu ngôn ngữ, văn hóa, gia đình, thanh niên, trẻ em, người cao tuổi, lao động, di cư, truyền thông số. Nghiên cứu xã hội và nhân văn không thể chỉ làm theo từng đề tài ngắn hạn, xong nghiệm thu rồi cất vào tủ. Nó cần tích lũy qua nhiều năm, nhiều thế hệ học giả, nhiều trường phái, nhiều bộ dữ liệu mở và nhiều cuộc đối thoại học thuật nghiêm túc.
Cùng với tài chính, cần đổi mới cơ chế đánh giá. Đánh giá khoa học xã hội và nhân văn không thể chỉ đếm số bài báo, số trang báo cáo hay số hội thảo. Cần đánh giá theo chất lượng học thuật, độ tin cậy phương pháp, đóng góp lý luận, tác động chính sách, khả năng dự báo, giá trị phản biện, mức độ lan tỏa xã hội và đóng góp vào phát triển văn hóa, con người. Một báo cáo chính sách giúp hoàn thiện một đạo luật quan trọng; một nghiên cứu giúp bảo vệ không gian văn hóa của cộng đồng trong quá trình đô thị hóa; một bộ dữ liệu giúp hoạch định chính sách gia đình, trẻ em, giáo dục, văn hóa đọc; một công trình lý luận giúp củng cố nhận thức về con đường phát triển Việt Nam - tất cả đều cần được nhìn nhận như những đóng góp khoa học có giá trị chiến lược.
Một yêu cầu khác là xây dựng môi trường học thuật tự do, trung thực, sáng tạo, có phản biện và có liêm chính khoa học. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu ban hành chuẩn liêm chính khoa học quốc gia, gắn với xử lý nghiêm gian lận học thuật, ngụy tạo dữ liệu, đạo văn, xung đột lợi ích, công bố hình thức và bệnh thành tích. Đây là nền tảng đạo đức của khoa học. Khoa học xã hội và nhân văn càng liên quan trực tiếp đến con người, chính sách, niềm tin và giá trị thì càng phải dựa trên sự trung thực, khách quan, dũng khí phản biện và trách nhiệm quốc gia.
Đồng thời, cần trọng dụng đội ngũ trí thức xã hội và nhân văn. Không thể có nền khoa học mạnh nếu nhà khoa học luôn phải loay hoay với thủ tục hành chính, thiếu điều kiện làm việc, thiếu dữ liệu, thiếu diễn đàn học thuật, thiếu cơ hội tham gia vào các bài toán lớn của đất nước. Cần có cơ chế giao nhiệm vụ lớn cho các nhóm nghiên cứu mạnh, các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học trẻ; mở rộng hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan hoạch định chính sách, địa phương, doanh nghiệp văn hóa, tổ chức xã hội và trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Khoa học xã hội và nhân văn chỉ thực sự sống động khi nó bước ra khỏi khuôn viên viện, trường để tham gia vào đời sống, nhưng cũng chỉ có giá trị bền vững khi giữ được chuẩn mực học thuật và chiều sâu tư tưởng.
Đối với ngành Văn hóa, nhiệm vụ phía trước rất lớn. Chúng ta cần những chương trình nghiên cứu quốc gia về hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ mới; về con người Việt Nam trong xã hội số; về văn hóa gia đình trước biến đổi dân số; về công nghiệp văn hóa và thị trường sáng tạo; về di sản trong phát triển bền vững; về văn hóa học đường, văn hóa công vụ, văn hóa doanh nghiệp; về bản sắc đô thị trong quá trình sáp nhập, mở rộng không gian phát triển; về sức mạnh mềm Việt Nam trong thế giới đa cực, cạnh tranh và biến động.
Nhìn từ kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể nói khoa học xã hội và nhân văn đang đứng trước một thời cơ mới để được định vị đúng hơn, đầu tư xứng đáng hơn và đóng góp mạnh mẽ hơn cho đất nước. Đây không chỉ là câu chuyện của giới nghiên cứu. Đây là câu chuyện của quốc gia: Muốn phát triển nhanh phải có công nghệ; muốn phát triển bền vững phải có thể chế; muốn phát triển nhân văn phải có văn hóa; muốn phát triển tự chủ phải có tri thức về chính mình.
Một đất nước chỉ thật sự mạnh khi biết làm chủ công nghệ của thời đại, đồng thời làm chủ hệ giá trị, bản sắc và mô hình phát triển của chính mình. Một dân tộc chỉ thật sự đi xa khi biết biến tri thức thành sức mạnh, biến văn hóa thành động lực, biến con người thành trung tâm, chủ thể và mục tiêu của mọi chính sách. Và đó chính là sứ mệnh lớn lao của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

RSS