Khi dữ liệu trở thành hạ tầng của kinh tế thể thao
VHO - Một trong những thông điệp đáng chú ý trong phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc ngày 2.10.2026 là yêu cầu phát triển kinh tế thể thao dựa trên dữ liệu. Đặt bên cạnh nhận định thể thao có thể trở thành một ngành kinh tế tạo ra giá trị, việc làm và đóng góp cho tăng trưởng, yêu cầu ấy cho thấy một cách tiếp cận rộng hơn đối với thể thao: từ lĩnh vực chủ yếu được nhìn qua thành tích, phong trào và chi ngân sách sang một hệ sinh thái có thị trường, có tài sản, có sản phẩm, có người tiêu dùng và có khả năng tạo ra những chuỗi giá trị mới.

Điểm đáng suy nghĩ nằm ở hai chữ “dữ liệu”. Bởi muốn thể thao thực sự trở thành một ngành kinh tế, trước hết phải trả lời được bằng những con số đáng tin cậy: thị trường đang lớn đến đâu, người dân chi bao nhiêu cho thể thao, doanh nghiệp đang đầu tư vào những phân khúc nào, một sự kiện thể thao tạo ra bao nhiêu doanh thu trực tiếp và hiệu ứng lan tỏa, cơ sở vật chất đang được khai thác với hiệu suất ra sao, những môn thể thao nào có tiềm năng thương mại hóa, đâu là dư địa để dòng vốn xã hội tham gia.
Nếu những câu hỏi căn bản ấy chưa được trả lời đầy đủ, nói về kinh tế thể thao rất dễ dừng lại ở tiềm năng.
Phải nhìn thấy cả chuỗi giá trị phía sau sân đấu
Có một thời gian dài, giá trị của thể thao dễ được nhận diện qua hai đầu mối quen thuộc: ngân sách dành cho hoạt động thể thao và thành tích đạt được ở các giải đấu. Nhưng kinh tế thể thao hiện đại rộng hơn rất nhiều.
Trong chỉ đạo ngày 2.10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra yêu cầu nghiên cứu phát triển một hệ sinh thái hoàn chỉnh gồm đào tạo và dịch vụ thể thao; tổ chức sự kiện; bản quyền và truyền thông; du lịch thể thao; cơ sở luyện tập; trang thiết bị, trang phục; y học và phục hồi; công nghệ, dữ liệu cùng các sản phẩm phục vụ thể thao.
Cách tiếp cận này quan trọng ở chỗ nó dịch chuyển điểm nhìn từ một hoạt động thể thao sang chuỗi giá trị được hình thành xung quanh hoạt động ấy.
Một giải marathon chẳng hạn, giá trị kinh tế không nằm riêng ở lệ phí đăng ký. Phía sau hàng nghìn người chạy là lưu trú, vận chuyển, ăn uống, trang phục, giày dép, thiết bị đo sức khỏe, truyền thông, quảng cáo, tài trợ và tiêu dùng du lịch tại điểm đến. Một giải bóng đá chuyên nghiệp cũng không đơn thuần tạo doanh thu từ bán vé; còn có bản quyền truyền hình, quảng cáo, thương quyền, sản phẩm lưu niệm, nền tảng số, dữ liệu người hâm mộ và hàng loạt dịch vụ đi kèm.
Thể thao vì thế có một đặc điểm rất đáng chú ý: một hoạt động có thể đồng thời kích hoạt nhiều thị trường.
Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1189/QĐ-TTg cũng đã xác định nhiệm vụ mở rộng thị trường thể thao, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong phát triển thể dục, thể thao. Nhưng muốn thị trường phát triển, trước hết phải biết thị trường đang ở đâu.
Đó chính là lúc dữ liệu trở thành điều kiện của tăng trưởng.
Khi dữ liệu không dừng ở những bảng báo cáo
Một yêu cầu rất cụ thể trong phát biểu chỉ đạo là sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu thống nhất về thể dục, thể thao, kết nối dữ liệu về vận động viên, huấn luyện viên, cơ sở vật chất, giải đấu và phong trào quần chúng. Dữ liệu phải được sử dụng cho ra quyết định, phân bổ nguồn lực, theo dõi tiến độ và đánh giá chính sách, qua đó giúp trả lời những câu hỏi từ thực trạng nguồn lực đến sự phát triển của tài năng và hiệu quả của từng chính sách.
Đây có lẽ là điểm cần được nhìn sâu hơn.
Chuyển đổi số không nằm ở việc đưa các bảng thống kê từ giấy lên máy tính. Cũng không phải xây dựng thật nhiều phần mềm rồi mỗi đơn vị sở hữu một kho dữ liệu riêng. Giá trị chỉ xuất hiện khi dữ liệu đúng, đủ, được kết nối và có khả năng tạo ra quyết định tốt hơn.
Chẳng hạn, nếu có dữ liệu đầy đủ về các thiết chế thể thao trên cả nước, có thể biết nơi nào thiếu, nơi nào dư, công trình nào hoạt động hiệu quả, tài sản nào đang sử dụng dưới công suất. Nếu có dữ liệu liên tục về vận động viên, quá trình huấn luyện, thành tích, thể trạng, dinh dưỡng và chấn thương, việc tuyển chọn và đầu tư cho tài năng sẽ bớt phụ thuộc vào cảm nhận chủ quan. Nếu nắm được dữ liệu về người tập luyện, hành vi tiêu dùng và nhu cầu đối với từng loại hình thể thao, doanh nghiệp sẽ nhìn thấy thị trường rõ hơn và dòng vốn cũng có cơ sở để tìm đến đúng nơi.
Ở góc độ quản lý nhà nước, dữ liệu còn giúp trả lời một câu hỏi khó hơn: một đồng nguồn lực bỏ vào thể thao tạo ra kết quả gì?
Có những hiệu quả đo bằng huy chương. Có hiệu quả thể hiện qua số người tham gia tập luyện. Có nguồn lực tạo ra doanh thu và việc làm. Lại có khoản đầu tư đem đến lợi ích gián tiếp cho du lịch, sức khỏe cộng đồng, hình ảnh địa phương hay thương hiệu quốc gia.
Khi những giá trị ấy được đo lường, thể thao mới có thể bước ra khỏi cách tính khá giản đơn giữa “chi bao nhiêu” và “giành được bao nhiêu huy chương”.
Dữ liệu cũng là tài nguyên của thị trường
Ở một tầng sâu hơn, dữ liệu không riêng phục vụ quản lý. Trong nền kinh tế số, bản thân dữ liệu có thể trở thành một tài nguyên của kinh tế thể thao.
Dữ liệu người hâm mộ giúp câu lạc bộ hiểu khán giả của mình. Dữ liệu vận động giúp hình thành các ứng dụng luyện tập cá nhân hóa. Dữ liệu thi đấu tạo đầu vào cho truyền thông, phân tích chuyên môn và các nền tảng nội dung. Dữ liệu về sự kiện và dòng khách giúp địa phương thiết kế sản phẩm du lịch thể thao. Dữ liệu về nhu cầu tập luyện giúp doanh nghiệp quyết định đặt phòng gym, sân pickleball, trung tâm phục hồi hay cửa hàng thể thao ở đâu.
Vì thế, khi khoa học, công nghệ và dữ liệu được đặt vào nền tảng của đào tạo, quản lý và phát triển thể thao, vấn đề không nên chỉ hiểu theo nghĩa ứng dụng công nghệ vào huấn luyện vận động viên. Kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Bộ VHTTDL giai đoạn 2026-2030 cũng định hướng ứng dụng khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, công nghệ phân tích hiệu suất, cảm biến sinh học và thiết bị đeo thông minh trong thể thao thành tích cao.
Từ những công nghệ ấy, hoàn toàn có thể hình thành thêm những sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.
Vấn đề tiếp theo vì vậy là cơ chế chia sẻ và khai thác dữ liệu. Dữ liệu nào thuộc Nhà nước? Dữ liệu nào có thể mở cho doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển sản phẩm? Tiêu chuẩn nào giúp dữ liệu giữa cơ quan quản lý, liên đoàn, câu lạc bộ, cơ sở đào tạo và các địa phương có thể kết nối? Quyền riêng tư của vận động viên và người tập luyện được bảo đảm ra sao?
Không giải quyết những câu hỏi ấy, rất dễ xuất hiện những “ốc đảo dữ liệu”: nơi nào cũng có dữ liệu nhưng toàn hệ thống lại thiếu một bức tranh chung.
Muốn hình thành một ngành kinh tế, trước hết phải đo được nó
Kinh tế thể thao Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý: tiềm năng được nói đến nhiều nhưng khả năng định lượng đầy đủ quy mô, cấu trúc và đóng góp của nó vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Trong khi đó, muốn có chính sách thuế, tín dụng, đất đai hay ưu đãi đầu tư phù hợp; muốn thu hút vốn xã hội; muốn doanh nghiệp xây dựng chiến lược dài hạn thì trước hết phải biết quy mô thực của thị trường và những mắt xích nào đang tạo ra giá trị.
Bởi doanh nghiệp khó đầu tư nghiêm túc vào một thị trường mà họ chưa nhìn thấy đủ dữ liệu về nhu cầu. Nhà nước cũng khó thiết kế chính sách chính xác nếu chưa đo được kết quả của nguồn lực đã bỏ ra.
Do đó, phát triển kinh tế thể thao dựa trên dữ liệu cuối cùng không phải câu chuyện riêng của công nghệ. Đó là thay đổi phương thức quản trị phát triển.
Thể thao Việt Nam đã có vận động viên, giải đấu, sân vận động, liên đoàn, doanh nghiệp, người hâm mộ và một cộng đồng tập luyện ngày càng mở rộng. Những thành tố của thị trường đã hiện hữu. Việc cần làm là kết nối chúng thành hệ sinh thái, biến những hoạt động còn rời rạc thành chuỗi giá trị và biến những thông tin phân tán thành dữ liệu có khả năng dẫn dắt quyết định.
Khi ấy, câu hỏi đặt ra cho thể thao Việt Nam sẽ không dừng ở “năm nay cần bao nhiêu ngân sách?”, mà có thể tiến tới những câu hỏi của một ngành kinh tế thực sự: thị trường đang tạo ra bao nhiêu giá trị, còn bao nhiêu dư địa chưa được khai phá và mỗi nguồn lực được đầu tư đang tạo thêm bao nhiêu giá trị cho xã hội?
Muốn trả lời những câu hỏi đó, trước hết phải có dữ liệu.
Và khi dữ liệu đủ tốt để dẫn đường cho chính sách, đầu tư và thị trường, tiềm năng của kinh tế thể thao mới có cơ hội chuyển hóa thành những con số tăng trưởng có thể nhìn thấy, đo được và kiểm chứng được.

RSS