Giải pháp nào để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nguời dân? (Bài 1) : Từ bài tập của khóa học quốc tế
VH- Từ tháng 9-12.1999, Liên hiệp Phát triển hệ thống y tế (Alliance of Health System Development: AHDS), một phân ngành trẻ của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tổ chức khóa học “Phát triển hệ thống y tế” tại Upsala, Thụy Điển dành cho 29 quốc gia “đang phát triển” và đang có những vấn đề (problematic) nổi cộm nhất đối với hệ thống y tế hiện hữu thời đó, tại nhiều nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh.
Nhóm học viên Việt Nam gồm TS Mai Tuyết Nhung, Phó vụ trưởng Vụ các chương trình sức khỏe thời đó cùng một đồng nghiệp ngành Quân y là hai thành viên “cử tuyển” của Bộ Y tế và tôi (tham gia với vai trò “thí sinh tự do” sau nhiều kỳ thi do nhân viên trụ sở WHO vùng châu Á-Thái Bình Dương tuyển chọn). Để tận dụng tối đa kinh nghiệm, kiến thức và ý kiến các chuyên gia của WHO về lĩnh vực quan trọng này, trong “bài tập của nhóm quốc gia” (country team work) kết thúc khóa học, chúng tôi đã xây dựng đề cương nghiên cứu để trả lời câu hỏi: Tại sao với hệ thống y tế cơ sở từng được xác nhận là vững mạnh, hiệu quả và có khả năng thích ứng cao với các nhu cầu sức khỏe cộng đồng của hệ thống y tế Việt Nam trong hoàn cảnh trong và sau chiến tranh vô cùng khó khăn và nguồn tài chính rất eo hẹp nhưng đã từng là tấm gương cho các nước đang phát triển noi theo từ những thập niên 70-80 của thế kỷ XX nhưng mới bước vào thời kỳ “kinh thế thị trường” lại trở nên kém hiệu quả, với những biểu hiện bất thường: Tuyến y tế cơ sở ít được sử dụng (underutilization) và hiện tượng quá tải tuyến trên do vượt tuyến tràn lan (health-uplevel’s overwhelming overload due to bypass)?
Điều bất ngờ thú vị là đề cương của nhóm Việt Nam được chọn là một trong 5 đề án xuất sắc của khóa học và được WHO hỗ trợ nhân lực (chuyên gia phát triển đề án và xây dựng dự án, xử lý và công bố số liệu nghiên cứu trong kỷ yếu của AHDS/ WHO) và nguồn tài chính đủ để triển khai đề tài và trả lời được phần lớn nội dung câu hỏi trên đây qua nghiên cứu chọn mẫu đại diện trong cả nước. Kết quả nghiên cứu khảo sát định tính thông qua phỏng vấn trực tiếp các nhóm đối tượng sử dụng dịch vụ y tế từ các đơn vị y tế cơ sở (trạm y tế xã/phường) trên cả hai miền Nam Bắc đã làm hé lộ những điểm chủ chốt sau đây:
Sở dĩ nhân dân tại cộng đồng ít sử dụng trạm y tế mà thường đưa thẳng người nhà bị bệnh lên tuyến trên là vì: Nhân lực y tế tuyến cơ sở yếu và thiếu; Trang thiết bị, thuốc men tuyến cơ sở quá nghèo nàn và nhiều nơi bất hợp lý (do các chương trình quốc gia hoạt động riêng rẽ cung cấp không xuất phát từ nhu cầu thực tế của trạm y tế cơ sở); Không có phương tiện và cơ chế vận chuyển bệnh nhân kịp thời và an toàn khi cần chuyển tuyến.
Vì những lý do chính trên mà gia đình bệnh nhân thà chịu tốn kém về tài chính và nhân công chăm sóc xa nhà, vẫn muốn đưa người nhà lên tuyến trên để đảm bảo an toàn hơn cho tình trạng sức khỏe người bệnh. Cũng cần nói thêm là ở thời điểm đó chưa có chính sách mở rộng về thông tuyến bảo hiểm y tế và Luật sức khỏe chưa ra đời nên việc bệnh nhân vượt tuyến còn chịu rất nhiều áp lực về tài chính và pháp lý, nhưng nhân dân vẫn chấp nhận và hiện tượng vượt tuyến vẫn ngày càng phổ biến.
Cũng từ nghiên cứu trên, chúng tôi thu thập được những ý kiến xác đáng của dân chúng để hình thành các khuyến cáo thực tế sau: “… Trong khi chờ đợi kết quả đáp ứng có hiệu quả của ngành Y tế đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng thông qua: Tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng chuyên môn và nhân văn của đội ngũ nhân viên y tế cơ sở; Cải thiện số lượng và chất lượng trang thiết bị thuốc men cho tuyến cơ sở sau khi rà soát lại nội dung và phương cách cung cấp thông qua việc tích hợp một cách hợp lý các chương trình sức khỏe quốc gia; Đẩy mạnh giáo dục nhận thức và kiến thức y tế cơ bản cho cộng đồng theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”… thì hệ thống y tế cần có những thay đổi sâu sắc mang tính chiến lược trong việc đáp ứng một cách phù hợp đối với nhu cầu khám chữa bệnh cấp thiết và chính đáng của nhân dân”.
PGS.TS Nguyễn Văn Bàng
(Nguyên bác sĩ Nội trú Nhi, Giảng viên cao cấp Bộ môn Nhi, Đại học Y Hà Nội )

RSS