Đúng thời điểm, trúng yêu cầu thực tiễn

ThS VŨ MINH ĐẠO

VHO - Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam vào thời điểm hiện nay có thể khẳng định là rất kịp thời, cần thiết và đã nhận được sự đồng thuận cao của đa số đại biểu Quốc hội.

 Đúng thời điểm, trúng yêu cầu thực tiễn - ảnh 1
Việc Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa đã mở ra cơ hội mới, xung lực mới cho lĩnh vực văn hóa phát triển. Ảnh: TH.HÀ

 Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà còn là phát triển bền vững dựa trên nền tảng giá trị văn hóa và con người Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, lĩnh vực văn hóa vẫn còn nhiều “điểm nghẽn” kéo dài, đặc biệt là ở cơ sở - nơi trực tiếp gìn giữ và trao truyền các giá trị truyền thống.

Tại nhiều địa phương vùng dân tộc thiểu số, không khó để bắt gặp những nghệ nhân - “báu vật sống” của cộng đồng - vẫn đang âm thầm giữ nghề trong điều kiện thiếu thốn. Có những nghệ nhân hát then, đàn tính ở vùng cao, mỗi tháng chỉ có vài buổi truyền dạy tự phát, thu nhập rất thấp. Không ít nghệ nhân dệt thổ cẩm, chế tác nhạc cụ dân tộc hay thực hành nghi lễ truyền thống phải tự xoay xở kinh phí để duy trì hoạt động, trong khi các thủ tục tiếp cận hỗ trợ từ ngân sách còn phức tạp, chưa phù hợp với điều kiện thực tế.

Một thực tế đáng suy nghĩ là, nhiều di sản văn hóa phi vật thể đã được ghi danh, nhưng việc “giữ người” (tức là giữ nghệ nhân) lại chưa tương xứng với yêu cầu bảo tồn. Không ít nghệ nhân cao tuổi qua đời mà chưa kịp truyền dạy hết vốn quý, trong khi lớp trẻ kế cận thiếu động lực theo nghề vì thu nhập bấp bênh, thiếu môi trường phát triển.

Ở lĩnh vực nghệ thuật chuyên nghiệp, đặc biệt là các loại hình truyền thống như múa, xiếc, chèo, tuồng… bài toán tuổi nghề và chuyển đổi nghề nghiệp vẫn đang đặt ra cấp thiết. Diễn viên múa, xiếc phải trải qua quá trình đào tạo khắt khe, cường độ lao động cao, rủi ro chấn thương lớn, nhưng tuổi nghề lại ngắn.

Sau khoảng 35 tuổi, nhiều người không còn đủ điều kiện biểu diễn đỉnh cao, trong khi vẫn chưa đến tuổi nghỉ hưu, dẫn đến tình trạng “lửng lơ nghề nghiệp”. Không ít nghệ sĩ buộc phải chuyển sang các công việc mưu sinh khác, gây lãng phí nguồn nhân lực đã được đào tạo bài bản.

Chính từ những thực tiễn đó, việc ban hành một Nghị quyết với các cơ chế, chính sách mang tính đột phá là yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là bước cụ thể hóa các chủ trương lớn về phát triển văn hóa, mà còn là cơ hội để tháo gỡ những “nút thắt” tồn tại lâu nay, từ cơ chế tài chính, phương thức đặt hàng, đến chính sách đãi ngộ và bảo đảm an sinh cho người làm nghề.

Điểm đáng ghi nhận là trong quá trình thảo luận, nhiều đại biểu Quốc hội đã bày tỏ sự nhất trí cao với định hướng của dự thảo Nghị quyết. Sự đồng thuận này phản ánh nhận thức chung rằng, nếu không có những chính sách đủ mạnh, đủ linh hoạt và sát thực tiễn, thì rất khó để văn hóa phát triển tương xứng với tiềm năng và kỳ vọng.

Đáng chú ý, Nghị quyết lần này không chỉ dừng lại ở mục tiêu bảo tồn, mà còn mở ra cơ hội phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đưa văn hóa trở thành một lĩnh vực kinh tế có đóng góp ngày càng rõ nét cho tăng trưởng.

Thực tiễn quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã thành công khi chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao - từ điện ảnh, âm nhạc, thời trang đến du lịch văn hóa và các ngành sáng tạo nội dung số. Ở Việt Nam, tiềm năng này là rất lớn, với kho tàng di sản phong phú, bản sắc đa dạng của 54 dân tộc, cùng một thế hệ nghệ sĩ trẻ năng động, sáng tạo.

Tuy nhiên, trong thời gian dài, chúng ta vẫn chủ yếu tiếp cận văn hóa dưới góc độ “bảo tồn”, mà chưa thực sự chú trọng đúng mức đến “khai thác và phát triển”. Nhiều giá trị văn hóa vẫn đang tồn tại dưới dạng tiềm năng, chưa được chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế cụ thể.

Việc ban hành Nghị quyết với các cơ chế đột phá về tài chính, đặt hàng, xã hội hóa và thu hút nguồn lực ngoài nhà nước sẽ tạo điều kiện để hình thành thị trường sản phẩm văn hóa, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa văn hóa và du lịch, từng bước xây dựng thương hiệu văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.

Quan trọng hơn, phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn góp phần lan tỏa giá trị, củng cố bản sắc và nâng cao “sức mạnh mềm” quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đây chính là lợi thế cạnh tranh bền vững - khi văn hóa không thể sao chép, và bản sắc chính là điều làm nên vị thế.

Có thể khẳng định, nếu được triển khai hiệu quả, Nghị quyết sẽ tạo bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển: Từ chỗ coi văn hóa là lĩnh vực cần hỗ trợ, sang coi văn hóa là nguồn lực nội sinh, là động lực tăng trưởng và là sức mạnh bền vững của đất nước.

Thời điểm ban hành Nghị quyết lần này là “đúng và trúng”. Vấn đề còn lại là khâu tổ chức thực hiện, làm sao để mỗi chính sách khi đi vào cuộc sống không chỉ dừng lại trên giấy, mà thực sự chạm tới nghệ nhân, nghệ sĩ, nuôi dưỡng sáng tạo, giữ gìn bản sắc và lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam trong đời sống đương đại.