Luật Phát triển công nghiệp văn hóa:

Chuyển nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế

THU SÂM - XUÂN TRƯỜNG; ảnh: TRẦN HUẤN

VHO - Đại biểu Quốc hội Vũ Minh Đạo nhấn mạnh, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế, đồng thời tạo điều kiện để các giá trị văn hóa Việt Nam được sáng tạo, lan tỏa và tiếp nối.

Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Đây là dự án luật được xây dựng mới nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Kết luận số 18 của Hội nghị Trung ương 2.

Việc xây dựng luật đồng thời xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, nhằm giải phóng sức sáng tạo, khơi thông nguồn lực và tạo bệ phóng đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.

Trao đổi với phóng viên Văn Hóa bên hành lang kỳ họp Quốc hội, đại biểu Vũ Minh Đạo, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội bày tỏ sự nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Theo đại biểu, đây là dự án luật có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế, đồng thời tạo điều kiện để các giá trị văn hóa Việt Nam được sáng tạo, lan tỏa và tiếp nối.

Chuyển nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế - ảnh 1
Đại biểu Vũ Minh Đạo, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Từ góc nhìn đó, đại biểu tập trung góp ý năm nội dung nhằm hoàn thiện các chính sách của dự thảo luật, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và hiệu quả trong quá trình triển khai.

Làm rõ cơ chế hỗ trợ ở từng công đoạn của chuỗi giá trị

Theo đại biểu Vũ Minh Đạo, dự thảo luật cần làm rõ cơ chế hỗ trợ đối với từng công đoạn của chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, nhất là khâu sáng tạo và sản xuất sản phẩm.

Khoản 4 Điều 2 xác định chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa gồm sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng và tái đầu tư. Tuy nhiên, như Báo cáo thẩm tra đã chỉ ra, dự thảo cần thể hiện đầy đủ hơn chính sách đối với khâu sáng tạo và sản xuất.

Thực tế, khi một dự án đã có sản phẩm và doanh thu, việc đánh giá khả năng hỗ trợ tương đối thuận lợi. Ngược lại, đối với một kịch bản phim, một thiết kế hay một sản phẩm biểu diễn đang trong quá trình hình thành, việc chứng minh hiệu quả ngay từ đầu là rất khó. Đây lại chính là giai đoạn cần vốn để thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm và tìm kiếm thị trường.

Vì vậy, đại biểu đề nghị rà soát các điều 4, 29 và 30, quy định rõ hình thức hỗ trợ phù hợp với từng giai đoạn; đồng thời kết nối đầu tư mạo hiểm với thử nghiệm có kiểm soát tại Điều 9. Chính sách cần khuyến khích doanh nghiệp, quỹ đầu tư tham gia và chia sẻ rủi ro, đồng thời bảo đảm việc lựa chọn được thực hiện công khai, có tiêu chí và đánh giá kết quả.

Đối với sản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, dịch vụ sự nghiệp công, cần phân định rõ cơ chế đặt hàng, đấu thầu với chính sách hỗ trợ sản phẩm tham gia thị trường, theo kiến nghị của Ủy ban Văn hóa và Xã hội.

Một nội dung khác được đại biểu Vũ Minh Đạo quan tâm là tạo điều kiện để quyền sở hữu trí tuệ thực sự trở thành nguồn lực tài chính cho các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.

Đại biểu tán thành quy định tại Điều 11 về việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm và Điều 12 về hỗ trợ nâng cao năng lực xác định giá trị. Tuy nhiên, một tác phẩm có giá trị nghệ thuật chưa đồng nghĩa với việc ngân hàng có đủ căn cứ để nhận làm tài sản bảo đảm. Vấn đề còn nằm ở tính rõ ràng của quyền sở hữu, khả năng tạo doanh thu và phương án xử lý tài sản khi bên vay không thực hiện được nghĩa vụ.

Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị kết nối chính sách tại các điều 10, 11, 12 và khoản 3 Điều 29 thành một cơ chế có thể vận hành trên thực tế. Theo đó, thông tin về quyền sở hữu phải kiểm chứng được; dữ liệu giao dịch phải hỗ trợ việc định giá; cơ chế bảo lãnh tín dụng phải xác định rõ đối tượng, điều kiện và nguồn bảo đảm. Các nền tảng dữ liệu cần được tích hợp nhằm tránh đầu tư trùng lặp.

Đại biểu cũng thống nhất với kiến nghị của Ủy ban Văn hóa và Xã hội về việc cân nhắc quy định loại trừ trách nhiệm tại khoản 4 Điều 12. Trường hợp giữ quy định này, cần làm rõ cơ chế hậu kiểm, phòng ngừa tình trạng thông đồng, nâng khống giá trị tài sản, đồng thời bảo đảm quyền tự quyết cấp tín dụng của tổ chức tín dụng.

Bảo đảm người sáng tạo, doanh nghiệp và người dân thực sự được hưởng lợi khi luật đi vào cuộc sống

Đối với chính sách phát triển không gian sáng tạo, đại biểu cho rằng việc chuyển đổi nhà máy, công trình thành tổ hợp sáng tạo văn hóa theo Điều 17 là hướng đi đáng khuyến khích. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy hoạch, đất đai, tài sản công, xây dựng và phòng cháy, chữa cháy.

Đáng chú ý, điểm a khoản 6 Điều 17 cho phép chấp thuận nhà đầu tư không qua đấu giá, đấu thầu khi dự án có vai trò hình thành hoặc dẫn dắt hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Đại biểu thống nhất với Báo cáo thẩm tra rằng tiêu chí này cần được cụ thể hóa.

Theo đó, cần quy định rõ các cam kết có thể kiểm chứng như tỷ lệ diện tích phục vụ hoạt động văn hóa, khả năng cung cấp không gian cho các chủ thể sáng tạo và kết quả thu hút hoạt động sáng tạo, sản xuất. Các chính sách ưu đãi phải gắn với việc thực hiện cam kết, đồng thời có cơ chế xử lý khi dự án chuyển hướng khai thác hoặc không đạt yêu cầu.

Bên cạnh đó, việc đánh giá hiệu quả theo Điều 19 cần chú trọng số chủ thể sáng tạo được phục vụ, số sản phẩm được hình thành và mức độ tiếp cận của người dân. Theo đại biểu, một không gian sáng tạo chỉ phát huy giá trị khi có hoạt động sáng tạo thường xuyên.

Chuyển nguồn lực văn hóa thành động lực phát triển kinh tế - ảnh 2
Quốc hội nghe tờ trình về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa

Đại biểu Vũ Minh Đạo cũng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm cộng đồng được tham gia và hưởng lợi khi các tài nguyên văn hóa được khai thác thương mại.

Khoản 17 Điều 2 của dự thảo xác định cộng đồng là chủ thể sáng tạo; khoản 2 Điều 3 đặt ra nguyên tắc tôn trọng văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, theo đại biểu, các nguyên tắc này cần được cụ thể hóa trong chính sách.

Khi doanh nghiệp phát triển sản phẩm từ hoa văn, làn điệu hoặc tri thức truyền thống của cộng đồng, cần làm rõ nguồn gốc, trách nhiệm tôn trọng giá trị văn hóa và cơ chế hợp tác với cộng đồng.

Đại biểu đề nghị tiếp thu ý kiến trong Báo cáo thẩm tra, bổ sung tại khoản 3 Điều 27 yêu cầu cung cấp thông tin về nguồn gốc đối với sản phẩm sử dụng di sản, tri thức hoặc biểu đạt văn hóa truyền thống. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế tham vấn, thỏa thuận và chia sẻ lợi ích phù hợp với từng trường hợp, bảo đảm thống nhất với pháp luật về di sản văn hóa và sở hữu trí tuệ.

Chính sách hỗ trợ cũng cần bao quát nghệ nhân, hộ kinh doanh, làng nghề và cộng đồng, giúp các chủ thể này có điều kiện tham gia thị trường.

Về chính sách hỗ trợ tiêu dùng văn hóa, đại biểu Vũ Minh Đạo tán thành kiến nghị đổi tên “Thẻ văn hóa quốc gia” thành “Thẻ phúc lợi văn hóa” và hợp nhất quy định tại khoản 3, khoản 7 Điều 28.

Theo đại biểu, vấn đề cần quan tâm là người được hỗ trợ có sản phẩm, dịch vụ để sử dụng hay không. Nếu địa bàn thiếu điểm biểu diễn, chiếu phim, thư viện hoặc khả năng kết nối số còn hạn chế, việc cấp thẻ chưa đủ để bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa của người dân.

Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung đối tượng thụ hưởng là đồng bào dân tộc thiểu số, người dân tại địa bàn khó khăn; đồng thời kết hợp hỗ trợ tiêu dùng với cung cấp dịch vụ lưu động, dịch vụ số phù hợp và mở rộng điểm phục vụ. Cần có phương thức sử dụng thuận tiện đối với người không có điện thoại thông minh.

Bên cạnh đó, cần lượng hóa số người thụ hưởng, mức hỗ trợ, chi phí vận hành và trách nhiệm ngân sách của từng cấp. Số liệu khoảng 500.000 tỉ đồng huy động trong 5 năm, trong đó khoảng 100.000 tỉ đồng từ ngân sách nhà nước, được dẫn trong Báo cáo thẩm tra cần tiếp tục được phân tích cụ thể theo từng nhóm chính sách.

Từ những nội dung góp ý trên, đại biểu Vũ Minh Đạo mong muốn dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tiếp tục được hoàn thiện theo hướng cơ chế đặc thù phải rõ, nguồn lực phải khả thi và kết quả phải đo lường được. Qua đó, bảo đảm người sáng tạo, doanh nghiệp và người dân thực sự được hưởng lợi khi luật đi vào cuộc sống.