Từ “phát triển phong trào thể thao” đến xây dựng một “quốc gia vận động”

VŨ MINH ĐẠO

VHO - Sức khỏe, thể lực của người dân không chỉ là vấn đề của mỗi cá nhân, mỗi gia đình mà còn là một bộ phận cấu thành sức mạnh quốc gia. Từ cách tiếp cận đó, yêu cầu chuyển mạnh từ “phát triển phong trào thể thao” sang xây dựng một “quốc gia vận động” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra đã gợi mở một tư duy phát triển mới: Đưa thể dục, thể thao và vận động thể chất trở thành một phần của chiến lược phát triển con người, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn mới.

Từ “phát triển phong trào thể thao” đến xây dựng một “quốc gia vận động” - ảnh 1
Muốn xây dựng một “quốc gia vận động”, cần bắt đầu từ trẻ em và trường học. Ảnh: QUÝ LƯỢNG

 Từ sức khỏe mỗi người đến sức mạnh quốc gia

Tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Bộ VHTTDL và các cơ quan liên quan về thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 1.12.2011 và Kết luận số 70-KL/TW ngày 31.1.2024 của Bộ Chính trị về phát triển thể dục, thể thao trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Trước hết, phải coi sức khỏe và thể lực của người dân là một bộ phận của sức mạnh quốc gia và phát triển thể dục, thể thao là một trong những phương thức quan trọng để xây dựng nền tảng đó”. Cách đặt vấn đề này mở rộng đáng kể cách nhìn về vị trí, vai trò của thể dục, thể thao trong một hệ quy chiếu rộng hơn: Đầu tư cho sức khỏe, thể lực của Nhân dân chính là đầu tư cho con người và sức mạnh lâu dài của quốc gia.

Từ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng cho thấy yêu cầu chuyển mạnh từ “phát triển phong trào thể thao” sang xây dựng một “quốc gia vận động”. Muốn xây dựng một “quốc gia vận động”, cần bắt đầu từ trẻ em và trường học. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu: “Chúng ta cũng cần phải đặc biệt chú trọng đến thể thao học đường, không thể chỉ dừng ở việc tổ chức tiết giáo dục thể chất. Cần rà soát điều kiện sân bãi, thiết bị và đội ngũ giáo viên, đồng thời nghiên cứu cơ chế sử dụng chung các thiết chế thể thao công ngoài giờ học. Hệ thống trường học phải vừa giúp mỗi học sinh hình thành thói quen vận động suốt đời, vừa là nơi phát hiện sớm những tài năng thể thao”.

Đây là một định hướng rất quan trọng. Mục tiêu của thể thao học đường không nên chỉ dừng ở việc học sinh hoàn thành chương trình giáo dục thể chất hay đạt một tiêu chuẩn rèn luyện nhất định. Điều quan trọng hơn là sau những năm học phổ thông, mỗi học sinh hình thành được nhu cầu, kỹ năng và thói quen vận động suốt đời.

Một đứa trẻ biết bơi, biết chạy, biết chơi một môn thể thao và tìm thấy niềm vui trong vận động sẽ có nền tảng để duy trì lối sống tích cực khi trưởng thành. Ngược lại, nếu giáo dục thể chất chỉ được coi là một môn học bắt buộc thì vận động rất dễ kết thúc cùng với giờ học. Bởi vậy, cần từng bước chuyển từ tư duy “dạy thể dục” sang “giáo dục lối sống vận động”.

Điều đó đòi hỏi phải đồng thời giải quyết điều kiện sân bãi, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên và khả năng tiếp cận các thiết chế thể thao. Đặc biệt, việc sử dụng chung cơ sở vật chất là một hướng cần được quan tâm. Có nơi trường học thiếu sân tập trong khi thiết chế thể thao công cộng ở gần đó chưa được khai thác hết công suất; cũng có nơi cộng đồng thiếu địa điểm tập luyện trong khi sân trường, nhà tập lại đóng cửa ngoài giờ học.

Một cơ chế sử dụng chung hợp lý, xác định rõ trách nhiệm quản lý, bảo đảm an toàn và chi phí vận hành có thể mở rộng đáng kể cơ hội vận động cho người dân mà không nhất thiết phải chờ đầu tư thêm những công trình lớn.

Tinh thần này cũng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra đối với khu công nghiệp, khu đô thị và khu dân cư mới: “Không gian vận động cần được tính đến trong quy hoạch như một bộ phận của chất lượng sống. Những nơi chưa thể đầu tư mới thì phải tổ chức khai thác tốt hơn cơ sở hiện có, không để một bên thiếu nơi tập luyện trong khi tài sản công ở cùng địa bàn sử dụng chưa hết công suất”. Như vậy, không gian vận động cần được nhìn nhận như một thành tố của chất lượng sống. Không phải nơi nào cũng cần một công trình thể thao quy mô lớn. Với thể thao quần chúng, nhiều khi một đường đi bộ an toàn, sân chơi nhỏ, khu tập ngoài trời hay sân thể thao cộng đồng được quản lý tốt, lại có giá trị sử dụng thiết thực hơn. Vấn đề cốt lõi là người dân phải dễ tiếp cận, dễ sử dụng và muốn sử dụng.

Để “quốc gia vận động” trở thành hiện thực

Một nội dung đặc biệt đáng chú ý trong chỉ đạo lần này là yêu cầu đo lường sức khỏe thể chất, mức độ vận động và khả năng tiếp cận thể dục, thể thao của người dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh: “Muốn vậy, trước hết phải đo được sức khỏe thể chất của người dân và sự thay đổi của thể lực qua từng thế hệ. Bộ VHTTDL phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số về thể lực, mức độ vận động và khả năng tiếp cận thể dục, thể thao, trước hết đối với trẻ em, học sinh, người lao động và người cao tuổi. Phải biết nhóm dân cư nào đang thiếu vận động, địa bàn nào còn thiếu điều kiện tập luyện và những yếu tố nào đang cản trở người dân duy trì vận động thường xuyên”. Đây là bước chuyển quan trọng từ quản lý phong trào sang quản trị dựa trên dữ liệu.

Nếu chỉ biết bao nhiêu người đăng ký tập luyện, bao nhiêu giải đấu được tổ chức hay bao nhiêu câu lạc bộ được thành lập thì chưa đủ để đánh giá thực chất hiệu quả chính sách. Cần biết nhóm dân cư nào ít vận động; mức độ vận động thay đổi ra sao theo độ tuổi, địa bàn; trẻ em, người lao động, người cao tuổi đang gặp những rào cản nào; người dân có thể tiếp cận địa điểm tập luyện thuận lợi hay không.

Khi có dữ liệu, chính sách mới có thể đúng đối tượng, đúng địa bàn, đúng vấn đề. Từ đó, hệ thống chỉ tiêu về phát triển thể dục, thể thao cũng cần từng bước chuyển từ việc chủ yếu đo “ngành Thể thao đã tổ chức được bao nhiêu hoạt động” sang đánh giá “sức khỏe, thể lực và thói quen vận động của người dân đã thay đổi như thế nào”. Đây cũng chính là cách để kết quả thực hiện chính sách trở nên cụ thể, có thể nhìn thấy, đo được và duy trì trong thực tiễn.

Khi sức khỏe, thể lực của người dân được xác định là một bộ phận của sức mạnh quốc gia thì phát triển thể dục, thể thao không thể chỉ là trách nhiệm của một ngành.

Ngành Văn hóa, thể thao và du lịch giữ vai trò tham mưu, nòng cốt; ngành Giáo dục góp phần quyết định việc hình thành thói quen vận động của thế hệ trẻ; ngành Y tế kết nối vận động thể chất với phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe; quy hoạch và chính quyền địa phương tạo dựng không gian công cộng; tổ chức công đoàn và doanh nghiệp có vai trò đối với sức khỏe người lao động; gia đình và cộng đồng là môi trường duy trì thói quen vận động mỗi ngày.

Vì vậy, “quốc gia vận động” cần được nhìn nhận như một mục tiêu phát triển liên ngành và của toàn xã hội. Cùng với đầu tư mới, cần khai thác hiệu quả nguồn lực hiện có. Sân vận động, nhà thi đấu, sân trường hay thiết chế văn hóa - thể thao được đầu tư nhưng sử dụng chưa hết công suất cũng đồng nghĩa với nguồn lực xã hội chưa được phát huy đầy đủ. Yêu cầu “không để một bên thiếu nơi tập luyện trong khi tài sản công ở cùng địa bàn sử dụng chưa hết công suất” cần được cụ thể hóa bằng những cơ chế quản lý và chia sẻ phù hợp.

Đích đến cuối cùng không chỉ là có thêm nhiều người tham gia một phong trào thể thao, mà là hình thành một xã hội trong đó mọi người đều có cơ hội, điều kiện và động lực để vận động: Trẻ em lớn lên cùng thể thao; người trưởng thành coi tập luyện là một phần của cuộc sống; người cao tuổi duy trì vận động để sống khỏe, sống tích cực; không gian sống khuyến khích con người đi bộ, chạy, chơi thể thao và kết nối cộng đồng.

Khi ấy, “quốc gia vận động” không còn là một khái niệm mang tính định hướng. Nó hiện diện trong sân trường mỗi buổi sáng, trên đường đi bộ trong công viên, tại sân chơi khu dân cư, trong khu công nghiệp sau giờ làm việc, trong câu lạc bộ của người cao tuổi và, quan trọng nhất, trong thói quen hằng ngày của hàng triệu gia đình Việt Nam.

Chuyển từ “phát triển phong trào thể thao” sang xây dựng một “quốc gia vận động”, vì thế, chính là chuyển từ tổ chức hoạt động sang kiến tạo lối sống; từ đếm số người tham gia sang đo sự thay đổi về thể lực và chất lượng sống; từ trách nhiệm của riêng ngành Thể thao sang trách nhiệm chung của cả hệ thống và xã hội; từ đầu tư cho hoạt động thể thao sang đầu tư cho con người.

Đó cũng là cách đưa tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW, Kết luận số 70-KL/TW và những chỉ đạo mới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đi vào cuộc sống, góp phần xây dựng những thế hệ người Việt Nam khỏe mạnh hơn, năng động hơn, có chất lượng sống cao hơn, qua đó bồi đắp nguồn lực con người và sức mạnh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.