Nhạc kịch Việt: Chờ một “cú hích” dài hơi

PHẠM MAI

VHO - Những vở nhạc kịch thuần Việt liên tiếp ra mắt đang tạo sinh khí mới cho đời sống sân khấu. Tuy nhiên, đào tạo, nguồn nhân lực, phát triển công chúng và cơ chế vận hành vẫn là những nút thắt lớn. Muốn đi đường dài, nhạc kịch Việt cần vượt khỏi cách làm theo từng dự án riêng lẻ, từng bước hình thành một hệ sinh thái đồng bộ và bản sắc đủ rõ để hội nhập mà không hòa lẫn.

Nhạc kịch Việt: Chờ một “cú hích” dài hơi - ảnh 1
Những tác phẩm được đầu tư bài bản đang góp phần tạo diện mạo mới cho nhạc kịch Việt. Ảnh: Một cảnh trong vở nhạc kịch Không gia đình

Tiềm năng lớn, rào cản nhiều

Hơn 60 năm kể từ khi Cô Sao - vở nhạc kịch đầu tiên của Việt Nam do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác - ra mắt năm 1965, sân khấu nhạc kịch trong nước đang bước vào giai đoạn sôi động. Khán giả ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận loại hình nghệ thuật này, từ những tác phẩm kinh điển thế giới được dàn dựng tại Việt Nam đến các vở thuần Việt khai thác chất liệu lịch sử, văn hóa và đời sống.

Sự xuất hiện của Sóng (2022), Dế Mèn phiêu lưu ký (2023), Giấc mơ Chí Phèo (2024), Khát vọng đỏ (2024), Lửa từ đất (2025), Không gia đình (2025)… cho thấy các đơn vị nghệ thuật ngày càng mạnh dạn đầu tư, đồng thời từng bước tìm kiếm diện mạo và tiếng nói riêng cho nhạc kịch nước nhà.

Các tác phẩm mới liên tiếp ra đời, cùng những phản hồi tích cực từ thị trường, cho thấy dư địa phát triển của nhạc kịch rất lớn. Khán giả trẻ ngày càng cởi mở với loại hình kết hợp âm nhạc, diễn xuất và vũ đạo; nhiều đơn vị cũng sẵn sàng thử sức với những dự án quy mô. Dù vậy, nhạc kịch Việt Nam vẫn chưa có được bước phát triển tương xứng với tiềm năng do còn nhiều hạn chế về nhân lực, đào tạo và phương thức tổ chức.

Theo NSƯT Cao Ngọc Ánh, nhà sáng lập hệ sinh thái nhạc kịch CNA Creative Arts, thiếu diễn viên có khả năng đồng thời hát, diễn xuất và thực hiện vũ đạo mới chỉ là một trong những khó khăn. Điểm nghẽn lớn hơn nằm ở chỗ Việt Nam chưa có hệ thống đào tạo chuyên biệt cho nhạc kịch.

“Chúng ta không chỉ thiếu diễn viên mà còn thiếu giáo trình, phương pháp đào tạo và đội ngũ giảng viên chuyên sâu. Thể lực, hình thể và khả năng vận động của diễn viên Việt Nam khác với phương Tây nên không thể bê nguyên giáo trình nước ngoài về áp dụng. Muốn phát triển bền vững, phải xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với điều kiện và con người Việt Nam”, NSƯT Cao Ngọc Ánh nhận định.

Khoảng trống nhân lực còn hiện hữu ở đội ngũ biên kịch, đạo diễn, nhạc sĩ và nhà sản xuất. Qua quá trình dàn dựng các vở Sóng, Viên đá ngũ sắc, Công chúa Tóc Mây, Lửa từ đất, Giấc mơ nàng tiên cá…, nữ nghệ sĩ nhận thấy phần lớn biên kịch chưa được đào tạo chuyên sâu về sáng tác kịch bản nhạc kịch. Nhiều tác phẩm ban đầu vẫn được viết theo cấu trúc kịch nói, sau đó mới chuyển thể sang nhạc kịch. Đây là công việc phức tạp, đòi hỏi diễn biến tâm lý và lời thoại phải được chuyển hóa thành ngôn ngữ âm nhạc, đồng thời bảo đảm sự gắn kết giữa câu chuyện, ca từ và hành động sân khấu.

Dẫu còn nhiều “nút thắt”, Việt Nam lại có lợi thế của người đi sau khi được tiếp cận những mô hình đã qua thực tiễn kiểm chứng. Broadway (Mỹ) và West End (Anh) phải trải qua hơn một thế kỷ để tạo dựng hệ sinh thái nhạc kịch; Hàn Quốc cũng mất hàng chục năm phát triển loại hình này thành một ngành công nghiệp. Từ kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, nhạc kịch Việt có thể rút ngắn thời gian thử nghiệm, hạn chế những bước đi vòng và từng bước hoàn thiện mô hình phù hợp với điều kiện trong nước.

Thực tế, một số chương trình hợp tác quốc tế đang mở thêm hướng đi cho sân khấu nhạc kịch trong nước. Tiêu biểu là sự phối hợp giữa Nhà hát Tuổi Trẻ Việt Nam và Nhà hát SangsangMaru (Hàn Quốc), với nội dung hợp tác trải rộng từ biểu diễn tác phẩm đến chuyển giao quy trình sản xuất, chia sẻ kinh nghiệm vận hành, đào tạo diễn viên, chuyển thể kịch bản và phát triển vở diễn theo chuẩn nhạc kịch chuyên nghiệp.

Tạo đà để nhạc kịch Việt bứt phá

Muốn phát triển bền vững, nhạc kịch Việt Nam cần nhiều hơn những vở diễn chất lượng. Các khâu đào tạo, sáng tác, sản xuất, biểu diễn và phát triển công chúng phải được đầu tư trong một chỉnh thể có sự liên kết chặt chẽ. Chỉ khi những mắt xích này vận hành nhịp nhàng, nhạc kịch mới có thể vượt khỏi tình trạng phát triển theo từng dự án đơn lẻ để từng bước trở thành một lĩnh vực của công nghiệp văn hóa.

NSƯT Cao Ngọc Ánh nhận định, bên cạnh đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng khán giả là bài toán cần được quan tâm lâu dài. Nhạc kịch có ngôn ngữ biểu đạt riêng, vì vậy công chúng cần thời gian làm quen và hình thành thói quen thưởng thức. Muốn mở rộng lượng người xem, loại hình này cần được đưa đến gần hơn với khán giả qua trường học, các chương trình biểu diễn thường xuyên và hoạt động trải nghiệm.

Một nền nhạc kịch phát triển cần có đội ngũ sáng tạo chuyên nghiệp, những tác phẩm mang bản sắc riêng và một cộng đồng khán giả ổn định. Khi thị trường dần được hình thành, các đơn vị nghệ thuật mới có thêm động lực đầu tư và bán vé tương xứng với giá trị của tác phẩm. Hiện giá vé nhạc kịch dao động từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng, song vẫn khó phản ánh đầy đủ công sức của những nghệ sĩ phải đảm nhiệm đồng thời nhiều kỹ năng trên sân khấu.

Hợp tác quốc tế có thể giúp nhạc kịch Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các quốc gia đi trước, nhưng học hỏi không đồng nghĩa với sao chép. Điều cần tiếp thu là quy trình sản xuất, phương pháp đào tạo, cách tổ chức và vận hành sân khấu chuyên nghiệp; còn bản sắc văn hóa Việt phải được gìn giữ và thể hiện trong từng tác phẩm.

Theo NSƯT Cao Ngọc Ánh, khi hướng đến khán giả trong nước, các vở diễn cần được chuyển ngữ, Việt hóa để công chúng dễ tiếp nhận. Ngôn ngữ không đơn thuần là phương tiện truyền tải nội dung mà còn mang theo dấu ấn văn hóa của mỗi tác phẩm. Quan trọng hơn, nhạc kịch Việt phải kể được câu chuyện của người Việt, phản ánh lịch sử, văn hóa và đời sống Việt Nam bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại.

Vì thế, “cú hích” mà nhạc kịch nước nhà đang chờ đợi không thể chỉ đến từ một vài vở diễn thành công, mà phải là chiến lược đầu tư dài hơi cho toàn bộ hệ sinh thái, để loại hình này có thể đi xa bằng chính câu chuyện, ngôn ngữ và bản sắc của riêng mình.