Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
VHO - Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình "Những miền quê trong thơ Việt" - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Tất nhiên cầu kỳ thế không có nghĩa nội dung bị xem nhẹ. Sau này tôi thêm một lần đồng cảm với nữ nhà thơ Lữ Mai trong tập thơ "Dắt nhau về cũ" cũng viết về các tỉnh thành trong cả nước…
Tất nhiên đó chỉ là cái cớ! Tập bình thơ về các vùng miền này cũng vậy, các bài thơ được chọn để bình đã vượt khỏi ranh giới hành chính.

Hành trình cảm xúc trên đất Việt
Xứ mình dài - rộng - dọc - ngang - núi - sông - trời - biển đâu đâu cũng có các nhà thơ, các bài thơ ngâm ngợi thù tạc kiểu Bà Huyện Thanh Quan tức cảnh sinh tình nơi con đèo lãng mạn bậc nhất nước Việt… Các miền quê vào thơ với đủ sắc thái chung - riêng: Viết vì một ai đó; viết sau một lần lang bạt đến; viết để lưu dấu, để ngỏ lời… 36 bài thơ đợt này, hai nhà phê bình văn học Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ chọn bình, gắn với nhiều địa danh viết theo “đơn đặt hàng” từ trái tim. Viết bằng cảm xúc mới quý; không chạy theo các chuyến cơ sở đón mời, các trại sáng tác…, nghe đọc báo cáo, đi thăm đây đó, tiệc tùng…, rồi viết ào nhiều bài na ná nhau: Anh đưa em thăm quê anh, có tiềm năng này, tiềm năng kia, địa danh này, thắng cảnh nọ…, liệt kê như ngành du lịch khoe thế mạnh.
Có một giai thoại về nhạc sĩ Trần Chung, sinh thời, một bận ông và đoàn nhạc sĩ được Vườn Quốc gia Cúc Phương mời về sáng tác. Trong lúc lãnh đạo tiếp đoàn, cung cấp thông tin khái quát về Vườn, Trần Chung trốn đi đâu không ai biết. Mọi người chia nhau vào sâu trong Vườn tìm, thấy nhạc sĩ nằm ngủ dưới gốc “cây chò ngàn năm”, ngay cạnh chai rượu uống dở… Sau chuyến ấy, Trần Chung có ca khúc Nhớ về Cúc Phương để đời với giọng ca Trung Đức.
34 tác giả trong tập sách phần lớn là các tên tuổi trong làng thơ Việt: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Nguyễn Duy, Thu Bồn, Phan Thị Thanh Nhàn… và một vài gương mặt trẻ. 36 bài thơ đủ các thể: Lục bát, 5 chữ, 6 chữ, thơ tự do… cũng chiếm tối đa là các bài nổi tiếng. Thơ và tác giả đã sống trong trí nhớ người yêu thơ, có thể kể ra đây theo chiều dài đất nước và chiều dọc thời gian - ý tưởng lựa chọn của hai đồng chủ biên.
Những Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên); Khau Vai (Trần Hòa Bình); Mưa Thuận Thành (Hoàng Cầm); Đêm sông Cầu (Đỗ Trung Lai); Áo lụa Hà Đông (Nguyên Sa); Hà Nội vắng em (Tế Hanh); Đò Lèn (Nguyễn Duy); Miền Trung (Hoàng Trần Cương); Giời mưa ở Huế (Nguyễn Bính); Tạm biệt Huế (Thu Bồn); Còn chút gì để nhớ (Vũ Hữu Định); Đèo Cả (Hữu Loan); Mũi Cà Mau (Xuân Diệu)… là những “cột mốc” thơ neo trên bản đồ địa danh đất Việt. Mới trích nhanh như thế đã đủ thấy sự hấp dẫn của tập sách với độ sắc và tinh của nhóm chủ biên.
Cách dàn trận chữ nghĩa cơ bản thống nhất giữa hai chủ biên từ dung lượng cho đến kết cấu bài bình. Ta có thể thấy sự đồng điệu trong cách mở tung vài nét lý lịch bài thơ, tác giả, rồi tỉa vào từng chi tiết, làm bật tứ bài thơ và găm chặt ý chốt. Công thức vậy nhưng vẫn có những nét “óng ánh” riêng của mỗi người; sự đa sắc của chính các bài thơ với nhiều thi ảnh, cấu tứ khác nhau khiến các “shot” bình cũng nhờ thế không chệch hướng rơi vào đơn điệu.
Chạm vào “huyệt đạo” của thi ca
Thơ hay ắt có đất để bình, tất nhiên bình sao để tạo được một văn bản liên thông lại là một chuyện khác, với “đề bài” lời bình phải gọn, sắc, tối đa 300 chữ, để chỉ dẫn những ai chưa biết sẽ tìm đến bài thơ hoặc gói lại “lời bạt” tối giản trong mối đồng cảm với những người đã đọc; và cung cấp cho các thầy cô giáo, các học sinh, sinh viên học Ngữ Văn như một dạng ngữ liệu tham khảo…
Viết cực ngắn - cực khó, nói như nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, đó phải là thứ “văn bia”, chốt câu nào “chết cứng” câu đó. Thơ hay, nhiều ý tại ngôn ngoại, bài bình ngắn phải “điểm” chuẩn những “huyệt đạo” quan trọng trên cơ thể bài thơ. Xin “điểm” vài “huyệt đạo” mà Đỗ Anh Vũ và Nguyễn Hoài Nam đã “điểm” để thấy sự dụng công của hai tác giả.
Đỗ Anh Vũ chốt về Khau Vai (Trần Hòa Bình): “Câu thơ như một nhận định phổ quát cho mọi kiếp người: Ai trong đời chẳng có một Khau Vai”; về Phố Phái (Nguyễn Việt Chiến): “Thi sĩ giống như bước từ những bức tranh ra cõi người, đã tạm khép lại một cơn mộng du để đón những tia nắng ấm áp, những tiếng chim líu lo ríu rít”.
Trong khi đó, Nguyễn Hoài Nam cũng tối giản không kém khi kết bài bình về Đò Lèn (Nguyễn Duy) bằng câu ngắn mà nặng: “Có thể đọc và xem bài thơ Đò Lèn như lời sám hối của Nguyễn Duy trước vong linh bà, một lời sám hối thành thực và cảm động về tất cả những gì mà tuổi thơ ông đã vô tư được hưởng trên sự cơ cực của bà”; và đây nữa: “Nhà thơ Trần Mạnh Hảo vốn không xuất thân xứ Nghệ, nhưng với bài thơ Sông Lam, có thể nói rằng ông đã để lại cho xứ Nghệ một bài tỉnh thi”. Có lời bình sắc lẹm: “Hoa đỏ cứa vào rừng là một câu thơ tài hoa, như nhát chém thật ngọt cho một sự chia lìa” (Đỗ Anh Vũ); và trong trẻo như thơ: “Còn một chút gì để nhớ, bài thơ ra đời trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt, nhưng lại dịu mát như một giọt sương chiều nơi phố núi Tây Nguyên” (Nguyễn Hoài Nam)…
Còn nhiều vùng đất và thi phẩm, hai tác giả đồng chủ biên chưa chạm tới, không phải do bàn chân thấm mỏi mà chỉ vì giới hạn khuôn khổ “chuyến đi”. Khi “tấm bản đồ” đất Việt bằng thơ và bình đã được phác thảo, cũng phải nhắc đến vai trò thiết kế mỹ thuật của họa sĩ Trần Thắng, 36 bức minh họa đẹp một cách thăng hoa và hợp lý của họa sĩ Lê Cường, giờ là lúc chúng ta lật giở trang sách và tự điền thêm cho riêng mình những “cột mốc” thơ trong suốt chiều dài miền chữ S và lịch sử thơ ca đất Việt.

RSS