Tận dụng nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng xanh 2026
VHO - Chiều 23.4, tại Hà Nội, Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức Diễn đàn “Tận dụng nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng xanh 2026”.

Thể chế phải đi trước một bước để khơi thông nguồn lực
Phát biểu khai mạc, Tổng Biên tập Báo Đại biểu Nhân dân Phạm Thị Thanh Huyền nhấn mạnh, năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, mở ra một kỷ nguyên mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng và tính tự chủ của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, việc nhận diện đúng các “điểm nghẽn” về thể chế, chính sách và tổ chức thực thi là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển là một đột phá chiến lược nhằm khơi thông nguồn lực. Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi, ổn định và có thể dự báo của chính sách. Đây là những nền tảng quan trọng để tổ chức Diễn đàn.
Diễn đàn không chỉ là nơi trao đổi học thuật mà phải là không gian chính sách, kết nối giữa tư duy lập pháp và nhu cầu đời sống để hình thành những kiến nghị có giá trị thực tiễn cao, thực tiễn quản lý và nhu cầu từ đời sống, để từ đó hình thành những kiến nghị có giá trị, có thể “đi vào” quá trình hoạch định và hoàn thiện chính sách.
Vì sao phải thúc đẩy tăng trưởng xanh trong giai đoạn hiện nay?
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, lý giải nguyên nhân phải thúc đẩy tăng trưởng xanh ngay lúc này. Từ góc độ quốc gia, mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên năng lượng hóa thạch, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ đã bộc lộ những giới hạn rõ rệt.
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn nhấn mạnh, tăng trưởng xanh thực chất là quá trình tái cấu trúc cách thức tạo ra giá trị của nền kinh tế, chuyển từ mô hình dựa vào tài nguyên sang dựa trên hiệu quả, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Áp lực còn đến từ “luật chơi” mới của thị trường quốc tế. Các nhà nhập khẩu lớn, điển hình là Liên minh châu Âu (EU), không còn chỉ quan tâm đến giá mà đòi hỏi minh bạch chỉ số phát thải carbon. Từ năm 2026, khi cơ chế CBAM được áp dụng lên các ngành thép, xi măng, nhôm, doanh nghiệp Việt Nam đối mặt rủi ro chi phí khoảng 580 triệu Euro/năm nếu không kịp thời xanh hóa.
Để xác lập mô hình mới, ông Tuấn đề xuất phát triển đồng bộ 4 kênh: đầu tư năng lượng và hạ tầng; nâng cấp công nghiệp; mở rộng tài chính xanh và tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Hệ sinh thái này cần sự tham gia của 4 trụ cột: Nhà nước thiết lập khuôn khổ; Thị trường phân bổ nguồn lực; Doanh nghiệp đổi mới ưu tiền chuyển đổi trong lĩnh vực năng lượng, logistics, nông nghiệp; Người dân hình thành lối sống xanh để tạo sức ép ngược lại cho sản xuất.
Điểm nghẽn về vốn và rủi ro “giả xanh”
Ông Nguyễn Trung Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, Việt Nam cần huy động khoảng 368 tỉ USD đến năm 2040 để ứng phó biến đổi khí hậu, trong đó khu vực tư nhân chiếm tới 184 tỉ USD.
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi như hỗ trợ lãi suất 2%/năm theo Nghị quyết 198/2025/QH15 cho các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng ESG. Trong mua sắm công, các sản phẩm đạt Nhãn sinh thái Việt Nam cũng được ưu tiên sử dụng.
Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn nhiều vướng mắc. Dữ liệu năm 2025 cho thấy khoảng 50% doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn khi thực hiện chuyển đổi xanh. Hệ thống văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ, thiếu sự đồng bộ giữa mua sắm công xanh, tín dụng và trái phiếu xanh.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính phức tạp, năng lực xác nhận dự án xanh hạn chế, dẫn đến rủi ro “giả xanh”. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường thiếu nhân lực chuyên môn về ESG, MRV và hạn chế về quy mô vốn.
Từ đó, ông Thắng đề xuất cần cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, trong đó sớm ban hành và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn liên quan đến mua sắm công xanh, tín dụng xanh và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân.
Đồng thời, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện tiếp cận các ưu đãi để doanh nghiệp dễ dàng tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin về các dự án xanh cũng được xem là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng kết nối nguồn lực.
Phát triển nguồn nhân lực và việc làm xanh
Theo TS. Vũ Văn Doanh, Phó trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, việc phát triển nguồn nhân lực môi trường đang trở thành yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Theo Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ việc làm xanh tại Việt Nam hiện mới chiếm 3,6% tổng số việc làm trong 39 ngành nghề, nhưng dự báo có thể tăng lên 41% trong 88 ngành nghề trong tương lai.
Trong khi đó, thống kê giai đoạn 2023-2024 của ManpowerGroup cho thấy nhu cầu tuyển dụng xanh tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực sản xuất (33%). Nhu cầu tuyển dụng được thúc đẩy bởi các cam kết ESG và mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, với hơn 80% vị trí tập trung ở 4 nhóm ngành chính gồm sản xuất, chăm sóc sức khỏe - khoa học đời sống, năng lượng và công nghệ thông tin.
Dù vậy, theo ông Doanh, nguồn nhân lực hiện nay vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Sinh viên ra trường thường thiếu kỹ năng xanh, hệ thống đào tạo thiếu giáo trình phát triển bền vững.
Để khắc phục, ông đề xuất triển khai hiệu quả Quyết định 176/QĐ-TTg về Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030 và định hướng tới 2050. Tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương lớn của Đảng về phát triển nguồn nhân lực như các nghị quyết Trung ương liên quan đến đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững.
Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu và nhu cầu doanh nghiệp thông qua cơ chế đặt hàng đào tạo.

Tín dụng xanh và Trái phiếu xanh: Cần chỉ tiêu mạnh mẽ hơn
TS. Nguyễn Trí Hiếu đánh giá tín dụng xanh là kênh chủ lực nhưng dư địa đang bị thu hẹp do áp lực thanh khoản ngân hàng. Dư nợ tín dụng xanh cuối năm 2025 đạt khoảng 780.000 - 850.000 tỉ đồng (chiếm 4,1% tổng dư nợ).
Tuy nhiên, dòng vốn vẫn lệch về nông nghiệp và năng lượng tái tạo, thiếu hụt trong giao thông xanh và kinh tế tuần hoàn. Ông Hiếu đề xuất Ngân hàng Nhà nước nên giao chỉ tiêu cụ thể, nâng tỷ trọng tín dụng xanh lên tối thiểu 5% trong tổng dư nợ của mỗi ngân hàng, thay vì hoàn toàn tự nguyện.
Với trái phiếu xanh, quy mô thị trường hiện chỉ khoảng 30.000 tỉ đồng, chiếm khoảng 2% thị trường trái phiếu. Dù đã có một số tổ chức phát hành như chính quyền địa phương hay doanh nghiệp lớn, số lượng vẫn hạn chế.
Ông Hiếu nhận định, trong giai đoạn tới, trái phiếu xanh sẽ phù hợp hơn với các doanh nghiệp quy mô lớn, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn nhà nước. Tuy vậy, nếu được hỗ trợ về chính sách và nâng cao nhận thức thị trường, cả tín dụng xanh và trái phiếu xanh vẫn còn nhiều dư địa phát triển trong thời gian tới.
Chuyển đổi số là chìa khóa tối ưu hóa năng lượng
Cuối cùng, vai trò của chuyển đổi số được ông Lê Nguyễn Trường Giang, Viện trưởng Viện Chiến lược Chuyển đổi số, nhấn mạnh như một cuộc cách mạng về tư duy phát triển.
Chuyển đổi số cho phép doanh nghiệp “nhìn thấy” hệ thống năng lượng thông qua dữ liệu. “Vấn đề không chỉ là tiết kiệm, mà là tối ưu hóa cách sử dụng dựa trên dữ liệu”, ông nói.
Theo ông Giang, chuyển đổi số cũng làm thay đổi căn bản phương thức quản trị doanh nghiệp: từ quản trị công việc sang quản trị dòng thông tin, từ các chỉ số rời rạc sang đánh giá hiệu quả tổng thể và từ lợi thế cạnh tranh tĩnh sang lợi thế cạnh tranh động dựa trên đổi mới sáng tạo liên tục.
Để tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng, ông cho rằng doanh nghiệp cần đặt dữ liệu làm nền tảng, vận hành dựa trên công nghệ và ra quyết định dựa trên phân tích dữ liệu.

RSS