Biến lợi thế chăm sóc sức khỏe thành giá trị mới của du lịch Việt Nam
VHO - Hàng trăm nguồn suối khoáng, gần 3.850 loài thực vật được sử dụng làm thuốc cùng nền y học cổ truyền và tri thức bản địa đang mở ra dư địa lớn cho du lịch chăm sóc sức khỏe, nhưng Việt Nam vẫn thiếu một hệ sinh thái đủ hoàn chỉnh để biến lợi thế thành giá trị.

Thị trường tỉ USD và những gì Việt Nam đang có
Du khách ngày càng có xu hướng dành tiền cho những chuyến đi giúp họ phục hồi thể chất, cân bằng tinh thần, ăn uống lành mạnh hay đơn giản là thoát khỏi những bộn bề căng thẳng thường ngày. Khi nhu cầu thay đổi, du lịch chăm sóc sức khỏe cũng dần bước ra khỏi phạm vi của những khu spa và nghỉ dưỡng.
Theo số liệu được dẫn tại Hội thảo xây dựng Đề án “Phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam đến năm 2030” do Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam phối hợp với Sở VHTTDL Lào Cai tổ chức tại Lào Cai vào ngày 16.9.2026, chi tiêu du lịch chăm sóc sức khỏe toàn cầu đạt 893,9 tỉ USD năm 2024 và dự báo tăng lên khoảng 1.383,3 tỉ USD vào năm 2029. Chi tiêu bình quân cho một chuyến du lịch chăm sóc sức khỏe khoảng 721USD, cao hơn hai lần mức bình quân của du lịch nói chung.
Đây là phân khúc mà Việt Nam có nhiều điều kiện để tham gia. Cả nước có khoảng 400 nguồn suối khoáng, hệ sinh thái dược liệu với khoảng 3.850 loài thực vật được sử dụng làm thuốc. Địa hình đa dạng từ biển, rừng, cao nguyên đến vùng núi cùng khí hậu phân hóa tạo ra nhiều không gian phù hợp cho nghỉ dưỡng và phục hồi.
Việt Nam còn có nền y học cổ truyền lâu đời, ẩm thực, thiền, dưỡng sinh và tri thức chăm sóc sức khỏe của các cộng đồng dân tộc. Nếu được tổ chức tốt, đây có thể là phần tạo nên bản sắc cho sản phẩm wellness Việt Nam thay vì chỉ cạnh tranh bằng cảnh quan và cơ sở lưu trú.
Thực tế, các doanh nghiệp du lịch hiện chủ yếu cung cấp những dịch vụ chăm sóc sức khỏe như spa, massage, tắm khoáng và nghỉ dưỡng. Những dịch vụ này đã có thị trường riêng, nhưng sự kết nối giữa chúng với y tế, y học cổ truyền, dược liệu, dinh dưỡng và thể thao vẫn hạn chế, khiến các sản phẩm du lịch chăm sóc sức khỏe chưa hình thành được một hệ sinh thái hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, nhân lực chuyên sâu chưa nhiều, trong khi hệ thống tiêu chuẩn và thương hiệu quốc gia cho lĩnh vực này chưa được hình thành đồng bộ. Nói cách khác, Việt Nam không thiếu nguyên liệu, nhưng đang thiếu cách tổ chức để những nguyên liệu ấy tạo ra sản phẩm có giá trị cao.
Không thể chỉ bán một lần tắm khoáng hay massage
Điểm khác biệt của du lịch chăm sóc sức khỏe nằm ở cả hành trình. Du khách có thể bắt đầu bằng một kỳ nghỉ giữa rừng, tiếp tục với hoạt động tắm rừng, yoga, thiền, dinh dưỡng, khoáng nóng hoặc tắm thảo dược và kết thúc bằng những chương trình hỗ trợ duy trì lối sống lành mạnh sau chuyến đi.

Khi các dịch vụ được thiết kế thành một chương trình có mục tiêu, quy trình và tiêu chuẩn, giá trị của chuyến đi sẽ khác hẳn việc bán từng dịch vụ riêng lẻ.
Lào Cai là địa phương có thể hình dung rõ hướng phát triển này. Khí hậu núi cao, rừng Hoàng Liên, khoáng nóng, dược liệu và tri thức chăm sóc sức khỏe của các dân tộc Dao, Mông, Thái... tạo nên những điều kiện phù hợp để phát triển wellness vùng cao.
Tỉnh định hướng xây dựng “Vành đai Du lịch wellness Tây Bắc”, kết nối Sa Pa, Y Tý với Thác Bà, Bắc Hà và các vùng sinh thái, văn hóa. Các sản phẩm được định hướng gồm nghỉ dưỡng núi, tắm rừng, khoáng nóng, tắm thảo dược, thiền, yoga, ẩm thực bản địa và thể thao ngoài trời.
Ở phạm vi cả nước, TS. Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Kinh tế Du lịch thuộc Hiệp hội Du lịch Việt Nam, đề xuất khung “một hệ sinh thái - ba tầng sản phẩm - sáu trụ cột chính sách”. Ba tầng sản phẩm gồm du lịch chăm sóc sức khỏe thuần túy, chăm sóc sức khỏe có yếu tố chuyên môn y tế và du lịch y tế.
Giai đoạn 2027 - 2030, Việt Nam được đề xuất lựa chọn từ 5 - 7 cụm điểm đến thí điểm, trong đó có Lào Cai - Sa Pa - Tả Phìn, Quảng Ninh, Huế - Đà Nẵng, Khánh Hòa và Lâm Đồng.
Cách làm theo cụm có một lợi thế rõ ràng: có thể thử nghiệm trước sản phẩm, tiêu chuẩn, cách phối hợp giữa các ngành rồi mới nhân rộng. Nếu triển khai đồng loạt khi tiêu chuẩn chưa rõ, thị trường rất dễ quay lại cách làm cũ là mỗi nơi tự bán một vài dịch vụ mang tên wellness.
Một đề xuất khác là xây dựng nhãn chất lượng tự nguyện “Vietnam wellness”, nhằm nhận diện các cơ sở, chương trình và điểm đến đạt chuẩn. Giá trị của một nhãn như vậy, nếu được xây dựng nghiêm túc, không nằm ở cái tên mà ở khả năng tạo niềm tin cho du khách.
An toàn phải đi trước khả năng kiếm tiền
Du lịch chăm sóc sức khỏe cần được xác định rõ: đây không phải là cách gọi khác của du lịch chữa bệnh.
Du lịch chăm sóc sức khỏe hướng tới những người có tình trạng sức khỏe bình thường, muốn duy trì thể trạng, giảm căng thẳng, phòng ngừa bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong khi đó, du lịch y tế gắn với chẩn đoán, điều trị, can thiệp chuyên môn hoặc phục hồi chức năng.
Theo Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, phạm vi dịch vụ cần được xác định dựa trên tình trạng sức khỏe của người sử dụng và tính chất chuyên môn của kỹ thuật thực hiện, chứ không chỉ dựa vào tên gọi của một gói dịch vụ.
Điều này đặc biệt quan trọng khi ngày càng có nhiều sản phẩm đưa yếu tố y tế vào trải nghiệm nghỉ dưỡng. Một dịch vụ được quảng bá là chăm sóc sức khỏe nhưng thực hiện kỹ thuật có tính chất khám, chữa bệnh thì phải chịu những yêu cầu quản lý tương ứng.
Việt Nam hiện có 2.107 bệnh viện với hơn 339.000 giường bệnh và trên 105.000 bác sĩ. Mạng lưới y học cổ truyền gồm 65 bệnh viện chuyên khoa; 82% bệnh viện đa khoa có khoa hoặc tổ y học cổ truyền. Đến tháng 8.2026, Việt Nam có 13 bệnh viện đạt chứng nhận JCI và ba bệnh viện đạt chứng nhận ACHS. Lượng khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế tại Việt Nam ước đạt khoảng 300.000 lượt mỗi năm.
Những con số này cho thấy Việt Nam có nền tảng để kết nối y tế với du lịch, nhưng vẫn cần giải quyết khoảng cách về chứng nhận quốc tế, ngoại ngữ chuyên ngành, nhân lực điều phối, tiêu chuẩn dịch vụ và liên kết giữa bệnh viện với doanh nghiệp lữ hành.
Hai ngành y tế và du lịch cũng cần phối hợp xây dựng tiêu chuẩn, cơ chế đánh giá và công nhận chất lượng; chuẩn hóa dịch vụ trước, trong và sau chuyến đi; phát triển nhân lực chuyên biệt, cơ sở dữ liệu dùng chung và cơ chế bảo vệ thông tin sức khỏe của du khách.
Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu cho rằng hướng đi không phải tìm một mô hình ở nơi khác để sao chép, mà cần dựa trên những giá trị Việt Nam đang có. Tinh thần này cũng phù hợp với Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22.8.2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, với định hướng phát triển theo hướng chất lượng, giá trị gia tăng, thông minh, xanh, sáng tạo, tăng cường liên ngành, liên vùng và phát triển theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp.
Du lịch chăm sóc sức khỏe vì thế có thể trở thành một hướng đi đáng để Việt Nam đầu tư, nhưng không phải bằng cách nhân lên số lượng spa hay resort. Giá trị lớn hơn nằm ở việc kết nối những thứ vốn đã có: tài nguyên thiên nhiên, y học cổ truyền, dược liệu, ẩm thực, văn hóa và hệ thống y tế.
Khi những yếu tố ấy được chuẩn hóa thành hành trình an toàn, có chất lượng và mang dấu ấn riêng, Việt Nam mới có thể chuyển từ bán từng dịch vụ sang bán một trải nghiệm chăm sóc sức khỏe toàn diện. Đó cũng là lúc những lợi thế tưởng như quen thuộc có cơ hội trở thành giá trị mới của du lịch Việt Nam.

RSS