Việt Nam đặt mục tiêu có 3-5 đại học tinh hoa

HOÀNG HƯƠNG

VHO - Việt Nam đặt mục tiêu lựa chọn khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, trong đó phát triển 3-5 cơ sở thành đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1810/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045.

Theo Chiến lược, hệ thống giáo dục đại học sẽ được phát triển theo các nhóm gồm giáo dục đại học đại chúng nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận; các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quốc gia, ngành và vùng; một số đại học tinh hoa phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.

Việt Nam đặt mục tiêu có 3-5 đại học tinh hoa - ảnh 1
Việt Nam đặt mục tiêu có 3-5 đại học tinh hoa. Ảnh minh hoạ

Việc phân nhóm không phải là phân hạng hành chính mà nhằm xác định rõ sứ mạng, tiêu chuẩn, trách nhiệm và cơ chế đầu tư đối với từng nhóm cơ sở.

Chiến lược định hướng lựa chọn khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, trong đó phát triển 3-5 cơ sở thành đại học tinh hoa; ưu tiên các ngành then chốt, công nghệ chiến lược và nhiệm vụ phát triển quốc gia.

Phương thức đầu tư được chuyển từ phân bổ dàn đều sang tập trung theo sứ mạng và sản phẩm đầu ra. Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực cho các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đại học tinh hoa và những ngành chiến lược.

Cùng với việc sắp xếp hệ thống, các trường đại học phải chuyển từ “đào tạo những gì mình đang có” sang “đào tạo những gì đất nước và xã hội cần”.

Trong tuyển sinh, mục tiêu không còn chỉ là “tuyển đủ” mà phải tuyển đúng người học, phù hợp với yêu cầu của ngành đào tạo và bảo đảm chất lượng. Chỉ tiêu tuyển sinh phải căn cứ vào chất lượng nguồn tuyển, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, nhu cầu nhân lực và khả năng có việc làm sau tốt nghiệp.

Dữ liệu về nhu cầu nhân lực, việc làm, thu nhập và phản hồi của doanh nghiệp phải trở thành căn cứ để mở ngành, điều chỉnh chương trình và xác định quy mô đào tạo. Những ngành không bảo đảm chất lượng hoặc có nhu cầu thấp phải được rà soát.

Đối với các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược và ngành thiết yếu, Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ thông qua học bổng, đặt hàng và giao nhiệm vụ.

Chương trình đào tạo được đổi mới theo hướng linh hoạt, gắn với thực tiễn; tăng cường học qua dự án, thực hành, thực tập và hợp tác với doanh nghiệp. Thông tin về chất lượng chương trình, việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp phải được công khai, kiểm chứng để người học có căn cứ lựa chọn.

Chất lượng của trường đại học không chỉ được đánh giá qua quy mô đào tạo mà phải thể hiện bằng năng lực của người học, khả năng có việc làm sau tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và mức độ đóng góp đối với ngành, địa phương, đất nước.

Không phải tất cả các trường đều được đánh giá theo một khuôn giống nhau. Trường định hướng nghiên cứu phải chứng minh năng lực nghiên cứu và chuyển giao; trường định hướng ứng dụng phải chứng minh chất lượng thực hành, quan hệ với doanh nghiệp và việc làm của người học.

Dữ liệu giáo dục đại học sẽ được cập nhật trên nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia và từng bước kết nối với dữ liệu khoa học, công nghệ, việc làm, bảo hiểm, thuế. Kết quả được sử dụng để cảnh báo chất lượng, giao nhiệm vụ và phân bổ nguồn lực.

Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu có 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn; tỉ lệ học đại học trong nhóm dân số từ 18-22 tuổi đạt 45%; người học sau đại học chiếm 15%; người học các ngành STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ và 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong vòng 12 tháng.

Chiến lược cũng đặt mục tiêu phát triển 20-25 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc tế; thu hút khoảng 5.000 giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại Việt Nam.