Tuyên cáo thoái vị và hành trình ngắn ngủi theo cách mạng của Vua Bảo Đại

THS NGUYỄN HỮU GIỚI - Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam

VHO - Ngày 30.8.1945, tại Ngọ Môn – Huế, trước hàng vạn người dân cố đô, Vua Bảo Đại đọc Tuyên cáo thoái vị, chính thức khép lại hơn bốn thế kỷ tồn tại của triều Nguyễn và hàng nghìn năm chế độ quân chủ ở Việt Nam. Từ ngai vàng bước xuống làm “dân một nước tự do”, ông vua cuối cùng ấy từng đồng hành cùng cách mạng trong vai trò Cố vấn tối cao, nhưng quãng đường ấy ngắn ngủi và sớm rẽ sang một ngã khác.

Tuyên cáo thoái vị và hành trình ngắn ngủi theo cách mạng của Vua Bảo Đại - ảnh 1
Vua Bảo Đại

Vua Bảo Đại – vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam, sau khi thoái vị đã rời Thuận Hóa ra Hà Nội làm Cố vấn cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông từng nói: “Tôi thà làm dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ.”

Ngày 30.8.1945, Vua Bảo Đại đọc lời “Tuyên cáo thoái vị”, tự nguyện chấm dứt chế độ phong kiến của triều Nguyễn mà ông là đại biểu cuối cùng. Sự kiện này đánh dấu thắng lợi vẻ vang của chế độ dân chủ nhân dân, đồng thời là một bản án nghiêm khắc đối với thực dân Pháp: 

“Hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, độc lập của nước Việt Nam, muốn đạt mục đích ấy, Trẫm đã tuyên bố Trẫm sẵn lòng hy sinh hết thảy cả mọi phương diện và cũng vì mục đích ấy nên Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải có bổ ích cho Tổ quốc.

Xét thấy điều bổ ích nhất cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân – Trẫm đã tuyên bố ngày 22.8 vừa rồi trong giờ phút nghiêm trọng này, đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết.

Nay thấy nguyện vọng dân chủ của toàn dân Bắc Bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi Quốc hội thì không thể nào tránh khỏi tai nạn Nam Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân lại thuận tiện cho người ngoài lợi dụng. Cho nên mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ đến công lao của liệt thánh vào sinh ra tử gần bốn trăm năm, mở mang giang sơn đất nước từ Thuận Hóa tới Hà Tiên, mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong hai mươi năm trời, mới gần gũi quốc dân được mấy tháng, chưa làm việc gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn. Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một Chính phủ dân chủ cộng hòa. Trong khi trao quyền cho Chính phủ mới, Trẫm chỉ mong ước có ba điều này:

Điều thứ nhất: Đối với tôn miếu và lăng tẩm các liệt thánh, Chính phủ mới nên xử trí thế nào cho có sự thể.

Điều thứ hai: Đối với các đảng phái đã từng phấn đấu cho nền độc lập quốc gia nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong Chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng Chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp ở trên sự đoàn kết của toàn thể quốc dân.

Điều thứ ba: Đối với quốc dân, Trẫm xin hết thảy tất cả các giai cấp, các đảng phái cho đến các người Hoàng gia cũng vậy, nên hợp nhất mà ủng hộ triệt để Chính phủ dân chủ, giữ lấy nền độc lập của nước, chứ đừng vì lòng quyến luyến Trẫm và Hoàng gia mà sinh ra chia rẽ. Còn về phần riêng Trẫm trong hai mươi năm ngai vàng bệ ngọc đã biết bao ngậm đắng nuốt cay!

Từ nay Trẫm lấy làm vui được làm dân tự do của nước độc lập, chứ Trẫm nhất quyết không để cho ai lợi dụng danh nghĩa của Trẫm hay của Hoàng gia mà lung lạc quốc dân nữa.

Việt Nam độc lập muôn năm! Dân chủ cộng hòa muôn năm!

30.8.1945, Nguyễn Vĩnh Thụy”

Tuyên cáo thoái vị và hành trình ngắn ngủi theo cách mạng của Vua Bảo Đại - ảnh 2
Ấn Hoàng Đế Chi Bảo vua Bảo Đại trao lại tại Lễ thoái vị chiều 30.8.1945

Sau khi đọc Tuyên cáo thoái vị tại Ngọ Môn, Huế, trước sự chứng kiến của hơn 50 nghìn người dân cố đô, Vua Bảo Đại đã trao ấn “Hoàng đế chi bảo”, kiếm cho đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 2.9.1945, với chính sách khoan hồng của Đảng và Chính phủ, cựu hoàng Bảo Đại không phải chịu số phận bi thảm như vua Louis XVI trong Cách mạng Pháp năm 1789 hay Sa hoàng Nga Nicôlai Đệ Nhị trong Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917.

Trái lại, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ trân trọng mời giữ cương vị Cố vấn tối cao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ban đầu, khi Phạm Khắc Hòe và Tôn Quang Phiệt mang bức điện tới, Bảo Đại còn ngờ vực, cho rằng mình sẽ bị đưa đi lưu đày chứ không tin có chuyện được trọng dụng. Sự hoài nghi ấy theo ông suốt chặng đường từ Huế ra Hà Nội.

Ra tới Hà Nội, cựu hoàng được đón tiếp và đối đãi đúng mực, được tham gia bàn bạc công việc cùng Chính phủ, có dịp gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh – từ đó thêm cảm phục một nhà ái quốc chân chính.

Tuyên cáo thoái vị và hành trình ngắn ngủi theo cách mạng của Vua Bảo Đại - ảnh 3
Hoàng đế Bảo Đại và Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945 tại Hà Nội

Tháng 3.1946, sau kỳ họp Quốc hội đầu tiên, trong tinh thần bang giao với Chính phủ Tưởng Giới Thạch, ông được cử sang Trùng Khánh trong đoàn đại biểu ngoại giao. Nhưng chuyến đi ấy lại trở thành bước ngoặt khác: ông không quay về, mà dừng lại ở Trung Quốc rồi sang Hồng Kông, rẽ sang một lối đi xa dần với con đường cách mạng.

Lời hứa danh dự trong ngày thoái vị rồi cũng dần rơi vào quên lãng. Tháng 2.1947, khi cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Bảo Đại lại chấp thuận để thực dân đưa trở về, giữ ngôi “Quốc trưởng” trong một chính quyền thân Pháp ở vùng tạm chiếm, thực chất chỉ là chiếc bóng bù nhìn.

Sau Hiệp định Giơnevơ, tháng 10.1955, bằng một cuộc “trưng cầu dân ý”, ông bị Mỹ phế truất, trao quyền cho Ngô Đình Diệm. Một năm sau, tháng 10.1956, Bảo Đại rời hẳn quê hương, sang Pháp sống kiếp lưu vong.

Suốt mười năm liền (1956–1966), ông ẩn mình ở vùng Alsace, miền Đông nước Pháp, lấy thú vui săn bắn và những tháng ngày suy ngẫm để nguôi ngoai phần nào những thăng trầm chính trị đã qua.

Có thể nói, sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Vua Bảo Đại từng được trao cơ hội để trở thành một công dân dưới chính quyền mới. Thế nhưng, do khác biệt về lý tưởng và nhiều nguyên nhân khác, con đường ông chọn đã rẽ sang một hướng khác.

Sau khi không còn vai trò tại miền Nam Việt Nam, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn sang Pháp định cư và sống lưu vong cho đến khi qua đời năm 1997.