Tám bậc trình độ quốc gia mới: Học sinh sau lớp 9 có những hướng đi nào?

PHÚC BÌNH

VHO - Từ ngày 7.9.2026, Khung trình độ quốc gia Việt Nam chính thức áp dụng theo quy định mới với 8 bậc trình độ. Khung này chuẩn hóa các trình độ đào tạo, trong đó cho thấy rõ lộ trình học tập từ sau lớp 9 đến đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.

Tám bậc trình độ quốc gia mới: Học sinh sau lớp 9 có những hướng đi nào? - ảnh 1
Ảnh minh họa: AI

Từ ngày 7.9.2026, Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg về Khung trình độ quốc gia Việt Nam chính thức có hiệu lực. Quyết định do Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký ngày 23.7.2026, thay thế Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18.10.2016.

Một trong những điểm đáng chú ý của quy định mới là làm rõ mối quan hệ giữa các cấp học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân với 8 bậc của Khung trình độ quốc gia. Qua đó, học sinh sau khi hoàn thành THCS có thể hình dung rõ hơn các lựa chọn học tập và con đường phát triển nghề nghiệp của mình.

Học sinh sau lớp 9 có thể đi theo những hướng nào?

Theo Quyết định 39/2026/QĐ-TTg, người học sau khi hoàn thành chương trình THCS có thể lựa chọn nhiều lộ trình đào tạo khác nhau và mỗi trình độ sau khi tốt nghiệp sẽ được xếp vào bậc tương ứng trong Khung trình độ quốc gia. Cụ thể như sau:

Hoàn thành chương trình đào tạo nghề khác theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp được xếp bậc 1 hoặc bậc cao hơn căn cứ trình độ đầu vào, khối lượng học tập và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra ở bậc trình độ tương ứng.

Tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ sơ cấp được xếp bậc 2 của Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Tốt nghiệp chương trình giáo dục trung học nghề được xếp bậc 3 hoặc bậc 4 căn cứ chuẩn đầu ra và khối lượng học tập tối thiểu của chương trình theo chuẩn chương trình đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ trung cấp được xếp bậc 4.

Tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ cao đẳng được xếp bậc 5.

Tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ đại học (cấp bằng cử nhân) được xếp bậc 6.

Tốt nghiệp chương trình đào tạo chuyên sâu của giáo dục đại học được xếp bậc 6 hoặc bậc cao hơn căn cứ trình độ đầu vào, khối lượng học tập và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra ở bậc trình độ tương ứng.

Tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ (cấp bằng thạc sĩ) được xếp bậc 7.

Tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ (cấp bằng tiến sĩ) được xếp bậc 8.

Theo quy định, việc xác định bậc trình độ của một chương trình đào tạo sẽ căn cứ vào chuẩn đầu ra, mức độ phức tạp của kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm của người học, cùng khối lượng học tập tối thiểu tương ứng với từng bậc.

Đối với các chương trình đào tạo đặc thù hoặc tích hợp nhiều giai đoạn, bậc trình độ được xác định theo chuẩn đầu ra và năng lực đạt được ở giai đoạn đào tạo cuối cùng, không phụ thuộc vào độ tuổi bắt đầu học, tên gọi chương trình hay hình thức tổ chức đào tạo.

Khung trình độ quốc gia gồm 8 bậc

Theo Quyết định 39/2026/QĐ-TTg, Khung trình độ quốc gia Việt Nam sẽ có 8 bậc, được mô tả chi tiết tại Phụ lục kèm theo Quyết định này (có hiệu lực thi hành từ ngày 7.9.2026).

Theo Điều 5 Quyết định 39/2026/QĐ-TTg, 8 bậc trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam từ ngày 7.9.2026 bao gồm:

Bậc 1: Thể hiện năng lực thực hiện các nhiệm vụ, công việc đơn giản, lặp lại theo quy trình hoặc hướng dẫn, dưới sự giám sát trực tiếp.

Bậc 2: Thể hiện năng lực thực hiện, giải quyết một hoặc một số công việc cơ bản và được dự báo trước của một nghề dưới sự giám sát chung; khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ và công cụ số phù hợp vào công việc.

Bậc 3: Thể hiện năng lực thực hiện thành thạo các công việc của ngành, nghề trong điều kiện làm việc tương đối ổn định và môi trường quen thuộc; có khả năng lựa chọn và áp dụng các quy trình, phương pháp, kỹ thuật, công nghệ phù hợp vào công việc; làm việc độc lập hoặc theo nhóm; tự chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc của bản thân.

Bậc 4: Thể hiện năng lực thực hiện và giải quyết các công việc của ngành, nghề trong điều kiện có thay đổi; có khả năng phân tích, lựa chọn, điều chỉnh và cải tiến quy trình, phương pháp, kỹ thuật, công nghệ trong phạm vi công việc; làm việc độc lập, thích ứng với môi trường làm việc biến động, phối hợp hiệu quả trong nhóm; có khả năng hướng dẫn, hỗ trợ kỹ thuật và kèm cặp người khác trong thực hiện công việc; chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc của bản thân và phần việc được giao trong nhóm.

Bậc 5: Thể hiện năng lực thực hiện, giải quyết các công việc phức tạp, khó được dự báo trước của ngành, nghề; có khả năng đề xuất và triển khai giải pháp cải tiến, đổi mới trong hoạt động nghề nghiệp; ứng dụng công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát người khác trong nhóm thực hiện công việc.

Bậc 6: Thể hiện năng lực vận dụng kiến thức toàn diện và tư duy phản biện để phân tích, tổng hợp, giải quyết các vấn đề phức tạp trong bối cảnh nghề nghiệp đa dạng; có năng lực đổi mới sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp, thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ; tham gia quản lý hoạt động chuyên môn và thực hiện trách nhiệm xã hội.

Bậc 7: Thể hiện năng lực làm chủ kiến thức nâng cao; có khả năng nghiên cứu, phát triển và vận dụng tri thức chuyên sâu (đối với định hướng nghiên cứu) hoặc giải quyết các vấn đề chuyên sâu, liên ngành trong thực tiễn nghề nghiệp (đối với định hướng ứng dụng); có năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị và dẫn dắt chuyên môn.

Bậc 8: Thể hiện năng lực sáng tạo tri thức mới, phát triển học thuyết hoặc phương pháp mới hoặc giải quyết các vấn đề thực tiễn của lĩnh vực chuyên môn hoặc của xã hội; có khả năng nghiên cứu độc lập ở trình độ cao nhất và định hướng chiến lược phát triển của lĩnh vực chuyên môn.

Khung trình độ quốc gia được xây dựng như thế nào?

Theo Quyết định, Khung trình độ quốc gia Việt Nam là hệ thống phân loại, mô tả và chuẩn hóa các trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân, được xây dựng theo các bậc trình độ dựa trên chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân của người học.

Khung trình độ gồm 8 bậc, được sắp xếp theo mức độ tăng dần về độ phức tạp của kiến thức, kỹ năng cũng như mức độ tự chủ, trách nhiệm. Mỗi bậc đều được mô tả thông qua ba thành phần gồm: kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân.

Các mô tả này mang tính định hướng, áp dụng chung cho mọi lĩnh vực đào tạo và sẽ được cụ thể hóa trong chuẩn chương trình đào tạo, không gắn với một ngành nghề, chương trình hay điều kiện đầu vào cụ thể. Đồng thời, mỗi bậc cũng quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với các chương trình đào tạo theo luồng chính của hệ thống giáo dục quốc dân.

Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 7.9.2026. Đối với các chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và chuẩn chương trình đã ban hành trước thời điểm này, các khóa tuyển sinh trước ngày 1.1.2027 vẫn tiếp tục được áp dụng theo quy định hiện hành.