(Emagazine) Những người gìn giữ và lan tỏa văn hóa dân tộc
VHO - Bên cạnh các chính sách bảo tồn, văn hóa dân tộc “sống” được nhờ sự nuôi dưỡng từ chính nội lực của cộng đồng. Ở khắp các vùng miền, nhiều người vẫn đang bền bỉ, lặng lẽ dành cả cuộc đời để làm "ngọn lửa" giữ hồn bản sắc cho dân tộc mình.


Nghệ nhân ưu tú Đặng Thị Thanh, người dân tộc Phó, hiện sinh sống tại xã Châu Quế (trước đây là xã Châu Quế Thượng, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; nay thuộc tỉnh Lào Cai), là một trong những cá nhân tiêu biểu trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tại địa phương.
Năm 2004, bà Đặng Thị Thanh được công nhận là Nghệ nhân dân gian và đến năm 2017, bà tiếp tục được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú.
Không chỉ dừng lại ở việc tham gia biểu diễn, bà Thanh còn mở nhiều lớp truyền dạy cho học sinh và thanh thiếu niên các làn điệu dân gian, đặc biệt là kỹ thuật thổi kèn “ma nhí”, sáo “khúc kệ” (loại sáo thổi bằng mũi) và các bài hát ru truyền thống.
Những hoạt động này nhằm mục đích giúp thế hệ trẻ hiểu, yêu và tiếp nối di sản văn hóa quý báu của cha ông để lại.
Từ năm 2006, bà bắt đầu mở các lớp truyền dạy và duy trì bền bỉ đến nay với nhiều khóa học cho học sinh, đặc biệt là lứa tuổi cấp THCS.
Trước đó, bà đã tham gia hoạt động văn hóa từ năm 1979, khởi nguồn chủ yếu từ niềm đam mê tự thân và ý thức tự giác gìn giữ bản sắc dân tộc.
Chia sẻ về hành trình gắn bó với nghệ thuật dân gian, bà cho biết việc học và thực hành các loại nhạc cụ truyền thống, đặc biệt là sáo thổi bằng mũi, là một thử thách không hề dễ dàng. Đây là kỹ thuật cực khó, đòi hỏi sự luyện tập kiên trì và bền bỉ.
Bà bắt đầu học nhạc cụ từ năm 16 - 17 tuổi, trong những lần đi làm nương và được một nghệ nhân lớn tuổi trong bản truyền dạy lại.
Từ vốn kiến thức ban đầu đó, bà tự mày mò nghiên cứu, chế tác nhạc cụ từ tre nứa và khổ luyện để đạt đến trình độ thành thạo.
Không chỉ gìn giữ cho riêng mình, bà Thanh còn truyền dạy lại cho các con, cháu trong gia đình.
Hiện nay, cả ba người con của bà đều biết thổi nhạc cụ truyền thống, trong đó người con trai còn có thể chế tác và sử dụng kèn “ma nhí” thuần thục trong các dịp lễ, Tết.
Với Nghệ nhân ưu tú Đặng Thị Thanh, việc gìn giữ văn hóa không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào, là cách hiệu quả nhất để những giá trị truyền thống của dân tộc tiếp tục được trao truyền qua các thế hệ.

Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân, sinh năm 1951, người dân tộc Si La (xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu), là niềm tự hào của cả bản làng và của cộng đồng dân tộc Si La - một dân tộc rất ít người nhưng luôn nỗ lực giữ gìn bản sắc riêng.
Dân tộc Si La hiện có chưa đến một nghìn người, sống rải rác ở hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên.
Tuy dân số không đông, nhưng bản sắc văn hóa của họ lại vô cùng phong phú và đa dạng, từ bộ trang phục thêu tay với những gam màu rực rỡ đến lời ăn tiếng nói, câu hát, điệu múa hay những lễ cúng tổ tiên, lễ mừng cơm mới...
Tuy nhiên, cũng chính vì dân số ít, bà Hù Thị Xuân luôn sống trong nỗi trăn trở khôn nguôi.
Bà lo lắng khi thấy lớp trẻ dần quên đi tiếng mẹ đẻ, lo sợ những điệu múa, câu hát cổ chỉ còn hiện hữu trong trí nhớ của người già.
Có những đêm, bà ngồi một mình tĩnh lặng để cố nhớ lại từng lời hát cũ, vì sợ rằng nếu mình quên đi thì sau này sẽ chẳng còn ai biết đến những giá trị đó nữa.
“Sinh ra trong thời khó khăn, ngày nhỏ đường đi không có, trường học thì xa, cái ăn cái mặc còn thiếu; nhưng tôi luôn nghĩ nếu mình không học thì sau này dân tộc mình sẽ còn thiệt thòi hơn. Có lẽ vì vậy mà tôi đã cố gắng đi học, rồi sau này trở thành cô giáo đầu tiên của bản”, bà Xuân chia sẻ đầy xúc động.
Đối với bà Hù Thị Xuân, không chỉ dừng lại ở việc dạy chữ cho trẻ thơ, bà luôn đau đáu nhiệm vụ phải dạy cả cái “gốc” của mình - đó chính là văn hóa dân tộc Si La.
Sau khi nghỉ hưu, bà Xuân quay về tập trung vào một việc quan trọng: giữ lại tiếng hát và điệu múa của người Si La.
Những ngày đầu thực hiện nhiệm vụ này không hề dễ dàng. Nhiều bài hát bà chỉ còn nhớ được một nửa, có điệu múa phải lặn lội đi hỏi lại những người cao tuổi hơn để ghép lại từng động tác.
Thử thách lớn nhất là người Si La có tiếng nói nhưng lại không có chữ viết, buộc bà Xuân phải tự dịch lời hát sang tiếng phổ thông rồi mới dạy lại cho chị em trong bản.
Ban đầu, phong trào cũng ít người tham gia do bà con còn bận rộn làm nương rẫy, lo toan cho gia đình, và nhiều người cho rằng những điệu múa xưa cũ không còn cần thiết.
Bà Xuân không nản chí, kiên trì đi từng nhà để nói chuyện và vận động. Dần dần, từ những buổi tập lẻ tẻ, bà đã thành lập được đội văn nghệ chính thức của bản.
Không chỉ dạy hát múa, bà còn phối hợp với các cán bộ văn hóa và nhà nghiên cứu để sưu tầm, ghi chép lại kho tàng dân ca của người Si La.
Mỗi bài hát đều chứa đựng một câu chuyện về nguồn gốc dân tộc, hành trình tìm đất định cư, về cuộc sống đời thường và niềm tin thiêng liêng đối với trời đất, tổ tiên.
Song song với đó, bà Xuân còn góp công lớn trong việc phục dựng lại nhiều nghi lễ truyền thống như lễ cúng bản, lễ mừng cơm mới, lễ cưới... nhằm giúp con cháu hiểu rõ nguồn cội và trân trọng những gì cha ông đã để lại.

Ông Đàng Chí Quyết, người có uy tín dân tộc Chăm tại thôn Bàu Trúc, xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa, là một người con sinh ra và lớn lên ở làng nghề truyền thống gốm cổ
Chứng kiến thực tế trình độ sản xuất của một bộ phận bà con còn chậm thích ứng với công nghệ mới và thu nhập từ nông nghiệp cũng như nghề truyền thống chưa ổn định, ông Đàng Chí Quyết luôn cảm thấy trăn trở.
Đặc biệt, trong bối cảnh làn sóng hội nhập mạnh mẽ, nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống luôn là nỗi lo hiện hữu.
Trước thực trạng đó, ông Đàng Chí Quyết nhận định vai trò của người có uy tín không chỉ dừng lại ở công tác tuyên truyền thuần túy, mà còn phải là người “đi trước, làm trước”, dùng chính hành động thực tế của mình để tạo dựng niềm tin và dẫn dắt cộng đồng.
Ông đã chủ động đến gần với bà con để tuyên truyền hiệu quả, tạo sự đồng thuận từ cơ sở.
Theo kinh nghiệm của ông, trong cộng đồng dân tộc thiểu số, công tác vận động không được phép cứng nhắc hay áp đặt mà đòi hỏi sự linh hoạt, mềm dẻo, phải phù hợp với phong tục tập quán và ngôn ngữ của từng nhóm cộng đồng dựa trên phương châm “gần dân, hiểu dân, trọng dân”.
Với uy tín của mình, ông Quyết chủ động hòa giải các mâu thuẫn ngay từ cơ sở, không để phát sinh những diễn biến phức tạp.
Ông quan niệm khi tình làng nghĩa xóm được thắt chặt, mỗi người dân sẽ tự nhiên trở thành một chiến sĩ bảo vệ bình yên cho thôn xóm.
“Tôi thường lồng ghép các chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào các buổi sinh hoạt cộng đồng, các lễ hội truyền thống hay cả trong những câu chuyện tâm tình bên bếp lửa gia đình. Khi bà con được “nghe” bằng tiếng lòng, khi họ đã “hiểu” và “tin”, họ sẽ tự giác thực hiện và làm theo”, ông Quyết khẳng định.
Một trong những việc làm nổi bật của ông là vận động nghệ nhân và bà con làng gốm Bàu Trúc biết cách kết hợp giữa bảo tồn và phát triển kinh tế.
Ông khuyến khích bà con vừa giữ gìn kỹ thuật làm gốm thủ công cổ xưa, vừa mạnh dạn cải tiến mẫu mã để đáp ứng thị trường, đồng thời gắn nghề gốm với mô hình du lịch cộng đồng để biến di sản thành tài sản.
Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế thực thụ, bà con sẽ có lòng tự hào và ý thức trách nhiệm cao hơn trong việc gìn giữ.
Nhờ hướng đi đúng đắn này, nghề gốm truyền thống không chỉ được duy trì mà còn phát triển mạnh mẽ, tạo việc làm ổn định cho hàng trăm lao động, nâng cao thu nhập và giữ chân được người lao động tại địa phương.
Cùng với đó, để bảo đảm sự kế thừa bền vững bản sắc dân tộc, ông Quyết đã cùng chính quyền địa phương tổ chức các lớp truyền dạy nhạc cụ, điệu múa và tiếng nói Chăm cho thế hệ trẻ.
Mục tiêu cao nhất là giúp lớp trẻ hiểu sâu sắc về cội nguồn, làm cho văn hóa truyền thống có thể sống khỏe và phát triển mạnh mẽ ngay trong nhịp sống hiện đại ngày nay.

Sinh ra và lớn lên tại làng Mạ - Tà Lài (ấp 4, xã Tà Lài, tỉnh Đồng Nai), chị Ka Thị Ngọc Hương là một trong những gương mặt trẻ tiêu biểu, âm thầm gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc Mạ.
Từ năm 2014, chị bắt đầu tham gia các hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống. Bằng sự kiên trì, chị đã vận động, tập hợp và từng bước phục hồi đội múa hát cồng chiêng của làng - một loại hình văn hóa từng đứng trước nguy cơ mai một.
Đồng thời, chị Hương trực tiếp quản lý nhóm dệt thổ cẩm, quyết tâm duy trì nghề thủ công truyền thống quý báu của người Mạ.
Không dừng lại ở công tác bảo tồn thuần túy, chị Ka Thị Ngọc Hương còn chủ động kết hợp giá trị văn hóa với phát triển du lịch.
Hiện nay, chị Hương đang đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên tại điểm du lịch cộng đồng làng Tà Lài.
Chị trực tiếp đưa du khách trải nghiệm đời sống, phong tục và những giá trị văn hóa đặc trưng của người Mạ, giúp khách phương xa hiểu hơn về cội nguồn dân tộc mình.
Đáng chú ý, vào các tối thứ 2, 4, 6 hằng tuần, chị đều đặn tổ chức lớp dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ em trong làng.
Trong các buổi học này, chị khéo léo lồng ghép giới thiệu văn hóa truyền thống, giúp các em nhỏ vừa tiếp cận tri thức mới của nhân loại, vừa bồi đắp lòng tự hào về bản sắc dân tộc.
Dù còn đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là bài toán đầu ra cho sản phẩm thổ cẩm và việc duy trì kinh phí cho đội cồng chiêng, chị Hương vẫn kiên trì theo đuổi con đường đã chọn, góp phần quan trọng vào việc “giữ lửa” văn hóa nơi bản làng Mạ.

Ông Đinh Văn Nghĩa (sinh năm 1967), người dân tộc Ba Na (trú tại thôn T1, xã Kim Sơn, tỉnh Gia Lai), là người có uy tín tại địa phương.
Ông đã gắn bó mật thiết với công tác vận động bà con từ khoảng năm 2000 đến nay. Trong vai trò của mình, ông thường xuyên hỗ trợ người dân giải quyết những vấn đề thiết thực đời thường như làm giấy tờ, căn cước công dân, đồng thời tận tình hướng dẫn bà con phương pháp phát triển kinh tế, kỹ thuật chăn nuôi và sản xuất để cải thiện đời sống.
Không chỉ quan tâm đến khía cạnh kinh tế, ông Nghĩa còn đặc biệt chú trọng đến nhiệm vụ bảo tồn văn hóa truyền thống.
Ông thường xuyên vận động bà con giữ gìn nếp nhà sàn, nhà rông, trân trọng trang phục truyền thống và tích cực duy trì các hoạt động văn hóa cộng đồng.
Nhờ tâm huyết của ông, hiện nay thôn đã thành lập được câu lạc bộ văn hóa với đội cồng chiêng gồm 14 thành viên, thường xuyên biểu diễn vào các dịp lễ hội và sự kiện quan trọng.
Tuy nhiên, việc thu hút lớp trẻ tham gia kế cận vẫn còn gặp nhiều khó khăn, điều này khiến ông không khỏi trăn trở về tương lai.
Dù vậy, ông Đinh Văn Nghĩa vẫn bền bỉ đóng vai trò cầu nối vững chắc giữa chính quyền và người dân, góp phần quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa Ba Na giữa đại ngàn Tây Nguyên.


RSS