Thái Nguyên: “Miền đất thép” góp sức cho ngày toàn thắng 30.4.1975
VHO - Trong kháng chiến chống Mỹ, Thái Nguyên huy động sức người, sức của, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, góp phần vào ngày toàn thắng 30.4.1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hòa bình lập lại năm 1954, cùng các tỉnh, thành phố miền Bắc, Đảng bộ và nhân dân Thái Nguyên bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế, củng cố tiềm lực quốc phòng.
Trong những năm tiếp theo, miền Bắc từng bước trở thành hậu phương của cuộc kháng chiến, vừa xây dựng kinh tế, văn hóa, vừa huy động sức người, sức của chi viện chiến trường miền Nam.
Khi đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh trực tiếp tham chiến tại miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ hậu phương bước vào giai đoạn quyết liệt.
Trên địa bàn Thái Nguyên, Trung ương Đảng và Chính phủ xây dựng nhiều cơ sở kinh tế, quốc phòng quan trọng, trong đó có Khu liên hợp Gang thép Thái Nguyên, cơ sở luyện kim đầu tiên ở miền Bắc.
Cùng với Khu Gang thép, hệ thống nhà máy sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng được đặt tại Thái Nguyên, tạo nên vị trí quan trọng về kinh tế và quốc phòng.

Thái Nguyên còn là đầu mối giao thông nối Hà Nội, các tỉnh đồng bằng với Việt Bắc và biên giới Việt - Trung, giữ vai trò quan trọng trong vận chuyển hàng hóa, lực lượng phục vụ chiến trường.
Từ đầu năm 1965, đế quốc Mỹ nhiều lần huy động máy bay trinh thám trên vùng trời Thái Nguyên trước khi các hoạt động đánh phá nhằm vào những cơ sở kinh tế, quốc phòng trên địa bàn.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm vụ phát triển kinh tế được thực hiện song song với củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị chiến đấu và tiếp tục chi viện sức người, sức của cho miền Nam.
Công tác phòng không nhân dân được triển khai rộng khắp cùng kế hoạch hiệp đồng chiến đấu giữa bộ đội địa phương, dân quân, du kích, tự vệ với các đơn vị bộ đội chủ lực trên địa bàn.
Toàn tỉnh xây dựng trên 140 trận địa phòng không, 200.000 hầm hào trú ẩn, đồng thời tổ chức hàng nghìn chiến sĩ dân quân, tự vệ luân phiên trực chiến, sẵn sàng tham gia bảo vệ.
Tại Khu Gang thép Thái Nguyên, trước diễn biến ngày càng ác liệt của chiến tranh, tháng 8.1965, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định tạm dừng một số công trình trọng điểm của khu.
Chỉ trong 2 tháng, Công ty Gang thép sơ tán 19.000 tấn thiết bị cùng trường học, bệnh viện, kho tàng, đồng thời đào 71 km giao thông hào và xây dựng 42.000 hầm trú ẩn.
Khi đó, hàng nghìn cán bộ, công nhân Gang thép Thái Nguyên đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ, trong đó có nhiều lá đơn viết bằng máu với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến”.
Trong số những người tình nguyện, 2.000 chiến sĩ được Quân đội lựa chọn, biên chế thành “Tiểu đoàn 6 Gang thép” và “Tiểu đoàn 9 Gang thép”, với 100% quân số là công nhân Gang thép.
Trên chiến trường, hai tiểu đoàn chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công. Tiểu đoàn 6 Gang thép được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và có 2 cá nhân là Anh hùng Quân đội.
Ở hậu phương, lực lượng tự vệ Khu Gang thép được tổ chức tại tất cả các đơn vị, bám các trận địa và từng điểm cao bắn máy bay Mỹ, thực hiện nhiệm vụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu.
Những năm tháng ấy để lại nhiều mất mát ngay tại khu công nghiệp trọng điểm, với 112 cán bộ, công nhân Khu Gang thép hy sinh và 226 người bị thương.
Trong hơn 20 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Thái Nguyên là một trong những mục tiêu phá hoại trọng điểm nhằm ngăn chặn việc huy động nguồn lực chi viện cho chiến trường miền Nam.
Đế quốc Mỹ huy động gần 4.000 máy bay các loại, trong đó có 69 lần máy bay B-52, đánh phá Thái Nguyên qua hơn 2.900 trận, diễn ra trong 297 ngày và 70 đêm.
Gần 15.000 quả bom phá, tương đương khoảng 5.000 tấn, được ném xuống địa bàn, trong khi quân và dân Thái Nguyên tiếp tục duy trì sản xuất, chiến đấu và bảo đảm nhiệm vụ chi viện chiến trường.
Trong giai đoạn chiến tranh ác liệt, Trung ương giao nhiệm vụ cho Thái Nguyên tiếp nhận hàng hóa từ các tỉnh để chuyển cho chiến trường miền Nam và khu vực, với khối lượng vận chuyển ngày càng lớn.
Riêng giai đoạn tháng 6 đến tháng 12.1972, Thái Nguyên đã trung chuyển 70.000 tấn lương thực, hàng hóa, duy trì dòng chi viện trong thời điểm miền Bắc phải đối mặt với các đợt đánh phá ác liệt.

Đêm Noel năm 1972, khi làm nhiệm vụ giải tỏa hàng tại ga Lưu Xá, 60 cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong Đại đội 915 (Đội 91 Bắc Thái) và 2 nhân viên thủ kho lương thực Lưu Xá anh dũng hy sinh.
Sự hy sinh của những Thanh niên xung phong Đại đội 915 (Đội 91 Bắc Thái) cùng 2 nhân viên thủ kho trở thành một phần của khúc tráng ca bất tử trong lòng thành phố Thép.
Trên toàn địa bàn, quân và dân Thái Nguyên trực tiếp chiến đấu trong hơn 400 trận, bắn rơi 61 máy bay Mỹ, tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái, trong đó có một dấu mốc đặc biệt.
Đó là chiến công bắn rơi chiếc máy bay thứ 1.000 của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, ghi dấu đóng góp của quân và dân Thái Nguyên trong cuộc chiến đấu bảo vệ hậu phương.
Giữa bom đạn chiến tranh, hoạt động sản xuất, đời sống, văn hóa, xã hội trên địa bàn tiếp tục được duy trì, mỗi năm nhân dân Thái Nguyên đóng góp cho Nhà nước trên 20.000 tấn lương thực.
Cùng nguồn lực vật chất, Thái Nguyên có trên 48.270 người nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại chiến trường 3 nước Đông Dương, cùng hàng vạn thanh niên xung phong lên đường phục vụ các chiến trường.
Trong những người đã lên đường, 7.792 người hy sinh vì Tổ quốc, gần 7.800 người để lại một phần xương máu nơi chiến trường.
Toàn tỉnh có hơn 3.000 gia đình với 2 - 5 người tòng quân, hàng trăm gia đình có 2 - 3 liệt sĩ hoặc người con độc nhất đã hy sinh vì Tổ quốc.
Bằng sức người, sức của cùng những năm tháng vừa sản xuất, vừa chiến đấu, Thái Nguyên góp phần giữ vững hậu phương miền Bắc, hướng về tiền tuyến và làm nên ngày toàn thắng 30.4.1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

RSS