Đưa Việt Nam thành trung tâm dịch vụ logistics hàng đầu khu vực và thế giới
VHO - Thủ tướng mong muốn doanh nghiệp logistics đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát huy tinh thần "tự lực, tự cường, đổi mới, sáng tạo, đoàn kết, hợp tác", vươn ra thế giới.

Sáng 29.11, tại Đà Nẵng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và phát biểu tại Diễn đàn Logistics Việt Nam 2025 với chủ đề: "Logistics Việt Nam - vươn mình tiến vào kỷ nguyên mới".
Cùng dự Diễn đàn có Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Lê Ngọc Quang; lãnh đạo, đại diện Ban, Bộ, ngành Trung ương, các cơ quan quản lý tại địa phương, các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics và xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, các viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
Phát biểu tại sự kiện, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao việc lần thứ 13 Diễn đàn được tổ chức nhằm thúc đẩy ngành logistics phát triển nhanh và bền vững – ngành giữ vai trò huyết mạch trong luân chuyển hàng hóa, và là một trong những "trụ cột" thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia.
Diễn đàn được tổ chức tại Đà Nẵng – địa phương có vị trí chiến lược với hệ thống cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế và nằm trên trục giao thông Bắc - Nam cũng như tuyến Hành lang Kinh tế Đông - Tây, kết nối các quốc gia trong khu vực Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS). Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thí điểm lập khu thương mại tự do đầu tiên tại Đà Nẵng.
Cùng với việc hình thành Trung tâm Tài chính Quốc tế đặt tại đây (tháng 12.2025), việc phát triển hạ tầng khu công nghiệp và logistics sẽ là động lực để Đà Nẵng bứt phá, sớm trở thành một trung tâm tài chính, kinh tế, logistics tầm khu vực và quốc tế, lan tỏa phát triển tới vùng Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và cả nước.
Đảng, Nhà nước rất quan tâm và đã có nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để phát triển ngành logistics. Các nghị quyết của Bộ Chính trị, các thể chế, cơ chế, chính sách do Quốc hội, Chính phủ ban hành về phát triển các vùng đều có nội dung về logistics. Việc thực hiện các chủ trương, chính sách này đã mang lại những kết quả tích cực.

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng dịch vụ logistics nhanh và ổn định, đạt bình quân 14-16%/năm, đóng góp trực tiếp vào GDP hàng năm ở mức 4,5-5% GDP. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2023, Việt Nam xếp thứ 43/139 quốc gia về Chỉ số Năng lực logistics (LPI) và thuộc Top 5 trong ASEAN cùng với 4 quốc gia Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia.
Thứ hai, chi phí logistics đã giảm xuống, còn khoảng 16% GDP (từ mức trên 20% GDP vào năm 2014), tiết kiệm hàng tỉ USD mỗi năm cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Thứ ba, hệ thống kết cấu hạ tầng logistics được đầu tư đồng bộ, đặc biệt là mạng lưới cảng biển, sân bay, đường cao tốc, trung tâm logistics tại các vùng kinh tế trọng điểm như: TPHCM, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Cần Thơ.
Thứ tư, khu vực doanh nghiệp logistics ngày càng lớn mạnh với hơn 34.000 doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, ứng dụng công nghệ cao trong quản trị vận hành.
Thứ năm, các hiệp định thương mại tự do còn tạo ra môi trường thuận lợi để logistics Việt Nam hội nhập sâu, mở rộng thị trường dịch vụ quốc tế trên các bình diện: Thị trường – hạ tầng (theo chuẩn quốc tế) – chuỗi cung ứng – hợp tác, đầu tư – nguồn nhân lực và tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế.
Thứ sáu, những kết quả này đã góp phần trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa, giảm chi phí xuất nhập khẩu, thúc đẩy tăng trưởng thương mại quốc tế và luân chuyển hàng hóa trong nước, quy mô thương mại quốc tế năm 2025 khoảng 900 tỉ USD.
Bên cạnh những kết quả này, Thủ tướng nêu rõ, ngành logistics Việt Nam vẫn còn những tồn tại, hạn chế, với 6 điểm nghẽn. Chi phí logistics ở Việt Nam vẫn còn ở mức cao so với các nước trong khu vực (Singapore chỉ 8%, Malaysia 12%, trung bình thế giới khoảng 11%). Liên kết vùng, kết nối hạ tầng chưa đồng bộ, hạn chế, dễ bị tác động khi xảy ra thiên tai.
Doanh nghiệp logistics quy mô nhỏ chiếm đa số, năng lực cạnh tranh yếu, thiếu vắng doanh nghiệp lớn. Chưa hình thành được trung tâm logistics cấp quốc gia trung chuyển hàng hoá quốc tế. Ngành còn thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, phù hợp với môi trường làm việc quốc tế.
Thể chế logistics còn chưa quy định cụ thể các loại hình dịch vụ logistics mới cho thương mại điện tử, logistics xanh, logistics hàng đặc biệt. Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong logistics thiếu cơ sở dữ liệu dùng chung và chuẩn đo lường thống nhất.

Thủ tướng nêu rõ, những hạn chế đó đòi hỏi chúng ta phải đổi mới tư duy phát triển, chuyển đổi mạnh trạng thái từ "hỗ trợ logistics nhỏ lẻ" sang "phát triển logistics hiện đại, thông minh" thành một ngành kinh tế quan trọng nhằm phát huy tối đa năng lực của các địa phương; thúc đẩy liên kết các vùng kinh tế, khu vực và quốc tế; coi dịch vụ logistics là yếu tố động lực, dịch vụ thiết yếu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo và phục vụ" theo đúng tinh thần Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam giai đoạn tới mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Theo Thủ tướng, những kết quả đạt được là chưa xứng tầm với ưu thế về vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế, ngành logistics Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm liên tục trong 5 năm tới, các ngành, các địa phương, lĩnh vực phải tăng trưởng 2 con số.
Trong đó, riêng ngành logistics phải đạt tốc độ tăng trưởng trung bình gấp 1,5 lần mức tăng trưởng GDP, cụ thể là tỉ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong tổng sản phẩm trong nước phải đạt 6-7%; tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm đạt 15-16%; kéo giảm chi phí logistics so với tổng sản phẩm trong nước xuống tương đương trung bình thế giới, khoảng 11-12%...
Chỉ rõ 8 nhiệm vụ chung, quan trọng để phát triển ngành logistics, Thủ tướng trước hết yêu cầu hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách logistics đảm bảo tính ổn định, đồng bộ, minh bạch, khả thi, giảm mạnh thủ tục hành chính và các rào cản để giảm chi phí thực thi cho người dân, doanh nghiệp.
Thứ hai, phát triển hạ tầng logistics xanh, số, thông minh, hiện đại. Kết nối cơ sở dữ liệu logistics với Một cửa quốc gia. Tăng cường hợp tác quốc tế về logistics xanh, logistics carbon thấp và duy trì tỉ trọng giá trị gia tăng ở mức cao khoảng 20-25% vào năm 2030.
Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển xanh, phát triển số, thông minh, hiện đại; cùng với phát triển các doanh nghiệp logistics lớn, đa quốc gia, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ tư, xây dựng cơ chế huy động nguồn lực để phát triển logistics xanh, số, hiện đại, thông minh; đẩy mạnh hợp tác công tư, kết hợp nguồn lực nhà nước và tư nhân, trong nước và ngoài nước, vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp, vốn vay…
Thứ năm, quản trị logistics phải thông minh thông qua kết nối doanh nghiệp, cơ quan quản lý, hải quan, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải; khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, nhất là các startup công nghệ số, nền tảng kết nối vận tải, quản lý kho, thương mại điện tử.
Thứ sáu, phát triển đồng bộ các dịch vụ liên quan, phục vụ ngành logistics như ngân hàng, bảo hiểm, trung tâm tài chính, chứng khoán, y tế, giáo dục…
Thứ bảy, liên kết, kết nối logistics Việt Nam với hệ thống logistics khu vực, quốc tế với tầm nhìn và hành động, liên kết tạo sức mạnh, hợp tác tạo ra lợi ích và đối thoại củng cố lòng tin.
Thứ tám, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong ngành logistics, đây là yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu. Thủ tướng nêu rõ, nông nghiệp là điểm tựa, là trụ đỡ, đã giúp đất nước ta thoát nghèo; công nghiệp giúp nước ta trở thành nước có thu nhập trung bình cao và khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ giúp đất nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Về các nhiệm vụ cụ thể với các cấp, các ngành, địa phương, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Công Thương khẩn trương hướng dẫn, phối hợp cùng với các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội, doanh nghiệp logistics tổ chức thực hiện đúng lộ trình Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050.

RSS