Đại biểu Quốc hội đề nghị đưa mô hình sở hữu kỳ nghỉ vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện

XUÂN TRƯỜNG; ảnh: TRẦN HUẤN

VHO - Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) cho rằng, khi mô hình sở hữu kỳ nghỉ được xác định là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Chính phủ sẽ có cơ sở pháp lý để quy định các điều kiện quản lý phù hợp và các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng khác.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chiều 5.8, Quốc hội thảo luận tại Hội trường về Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.

Đại biểu Quốc hội đề nghị đưa mô hình sở hữu kỳ nghỉ vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện - ảnh 1
Quốc hội thảo luận tại Hội trường về Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư

Đưa mô hình sở hữu kỳ nghỉ vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Nêu ý kiến thảo luận tại Hội trường, đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) cho biết, thời gian qua, thị trường bất động sản nghỉ dưỡng đã phát sinh nhiều vụ việc khiếu nại, khiếu kiện kéo dài liên quan đến mô hình sở hữu kỳ nghỉ.

“Rất nhiều khách hàng tập trung khiếu kiện tại trụ sở doanh nghiệp, nhiều vụ việc có dấu hiệu lừa đảo dưới danh nghĩa bán gói nghỉ dưỡng đã bị cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra”, đại biểu cho hay. 

Theo đại biểu Nguyễn Văn Huy, thực tiễn cho thấy các vụ việc liên quan đến hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ không còn là những tranh chấp dân sự riêng lẻ, mà đã trở thành vấn đề ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.

Điểm đáng lo ngại nhất của mô hình này không nằm ở việc cung cấp dịch vụ du lịch, mà ở cơ chế huy động một lượng tiền rất lớn của người dân thông qua việc bán trước quyền sử dụng dịch vụ.

Đại biểu Quốc hội đề nghị đưa mô hình sở hữu kỳ nghỉ vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện - ảnh 2
Đại biểu Nguyễn Văn Huy phát biểu

Trong thời hạn từ 10 đến 30 năm, doanh nghiệp có thể thu trước từ vài trăm triệu đến hàng tỉ đồng/hợp đồng, trong khi việc quản lý, sử dụng nguồn tiền này hiện chưa chịu bất kỳ một cơ chế kiểm soát chuyên biệt nào. 

"Khi doanh nghiệp mất khả năng thực hiện cam kết hoặc chấm dứt hợp đồng, rủi ro hầu như được chuyển toàn bộ sang phía người tiêu dùng”, đại biểu Nguyễn Văn Huy nói và cho rằng, hoạt động này đáp ứng được tiêu chí tại Khoản 1, Điều 7 (về danh mục Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện) theo Luật Đầu tư hiện hành.

“Khi hoạt động này được xác định là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, Chính phủ sẽ có cơ sở pháp lý để quy định các điều kiện quản lý phù hợp như cơ chế bảo đảm nghĩa vụ tài chính đối với khoản tiền khách hàng đã thanh toán trước, nghĩa vụ công khai thông tin, hợp đồng mẫu, quyền hủy bỏ hợp đồng trong thời gian cân nhắc và các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng khác”, đại biểu Nguyễn Văn Huy nêu quan điểm.

Rà soát kỹ dự thảo Nghị định về cơ sở được ủy quyền cung cấp dịch vụ thị thực

Quan tâm đến điều kiện bảo đảm thi hành và các dự thảo văn bản hướng dẫn trong hồ sơ dự án luật, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng) đề nghị hoàn thiện đầy đủ các văn bản thi hành trước khi Luật có hiệu lực

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho biết, dự thảo Luật đưa 58 ngành, nghề ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Nhiều ngành, nghề sẽ chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, hoặc quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và pháp luật chuyên ngành. Đây là thay đổi rất lớn về phương thức quản lý nhà nước.

Đại biểu Quốc hội đề nghị đưa mô hình sở hữu kỳ nghỉ vào ngành nghề kinh doanh có điều kiện - ảnh 3
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu

Tuy nhiên, hồ sơ dự án luật chưa làm rõ đầy đủ hiệu quả, tính khả thi của cơ chế hậu kiểm; chưa thể hiện cụ thể hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ sở dữ liệu, nguồn nhân lực thanh tra, kiểm tra và chế tài xử lý vi phạm thay thế.

Nếu bỏ điều kiện cũ trong khi công cụ quản lý mới chưa sẵn sàng, có thể phát sinh khoảng trống quản lý. Ngược lại, nếu dưới danh nghĩa tiêu chuẩn, quy chuẩn mà tiếp tục đặt ra những yêu cầu bắt buộc tương tự điều kiện gia nhập thị trường thì sẽ hình thành điều kiện kinh doanh khác.

Do đó, đại biểu đề nghị xây dựng một bảng kế hoạch thi hành cụ thể đối với từng ngành, nghề, trong đó cần làm rõ năm vấn đề: Điều kiện nào thực sự được bãi bỏ; văn bản nào phải sửa đổi; công cụ quản lý thay thế là gì; cơ quan nào chịu trách nhiệm hậu kiểm; và thời điểm công cụ mới bắt đầu vận hành. Việc chuẩn bị văn bản hướng dẫn đầy đủ sẽ giúp luật sớm đi vào cuộc sống khi được thông qua.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng đề nghị rà soát kỹ dự thảo Nghị định về cơ sở được ủy quyền cung cấp dịch vụ thị thực.

Theo đại biểu, những yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là dữ liệu sinh trắc học là vô cùng cần thiết, nhưng dự thảo Nghị định cần tiếp tục làm rõ khái niệm “được ủy quyền”: Chủ thể nào có quyền ủy quyền; căn cứ chứng minh việc ủy quyền; phạm vi, thời hạn ủy quyền; trường hợp cơ quan ngoại giao nước ngoài thay đổi đơn vị cung cấp dịch vụ thì xử lý như thế nào. Nếu không làm rõ, sẽ khó xác định chính xác đối tượng phải thực hiện điều kiện kinh doanh.

Hơn nữa, điều kiện “đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam về an ninh mạng và hệ thống thông tin” còn khá chung. Cần chỉ rõ tiêu chuẩn hoặc nhóm tiêu chuẩn áp dụng; cơ quan đánh giá; hình thức chứng minh; chu kỳ đánh giá lại.

Đặc biệt, dự thảo quy định doanh nghiệp phải “được cấp chứng chỉ xử lý dữ liệu cá nhân”, nhưng chưa làm rõ chứng chỉ này do cơ quan nào cấp, điều kiện, hồ sơ, thời hạn và cơ chế thu hồi ra sao. Nếu đây là một thủ tục hành chính mới thì phải được đánh giá đầy đủ về sự cần thiết, chi phí tuân thủ và căn cứ pháp lý.