Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo tồn di sản văn hóa không chỉ dừng lại ở việc lưu giữ hiện vật mà còn đòi hỏi sự nhìn nhận toàn diện về vai trò của các chủ thể thực hành trong đời sống thường nhật. Hội thảo là sự kết hợp giữa một thiết chế bảo tồn di sản văn hóa quốc gia với một cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về nữ giới Phật giáo, qua đó kết nối giới nghiên cứu Phật giáo với các nhà khoa học trên cả nước.

Quang cảnh Hội thảo
Quang cảnh Hội thảo

Phát biểu khai mạc hội thảo, Ni sư, TS Thích Như Nguyệt, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo cho rằng, nữ giới không chỉ là người gìn giữ nền nếp gia phong, bảo tồn phong tục tập quán hay trao truyền ký ức cộng đồng, mà còn là mạch nguồn bền bỉ khơi dòng trí tuệ, lan tỏa tinh thần từ bi và các giá trị nhân văn sâu sắc vào đời sống xã hội.

“Từ những trang tư liệu về công hạnh chư Ni, những di sản văn bia, cho đến những giá trị văn hóa đời sống thường nhật, chúng tôi luôn trăn trở làm sao để những giá trị ấy không bị lãng quên trước lớp bụi thời gian, mà được soi sáng dưới góc nhìn khoa học hiện đại”, Ni sư, TS Thích Như Nguyệt bày tỏ.

Phát biểu đề dẫn hội thảo, PGS.TS Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nhấn mạnh, bước vào kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc nhận diện, đánh giá và định vị lại vai trò của người phụ nữ đối với sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Hội thảo nhận được 30 công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và học giả Ni lưu đến từ Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, Viện Xã hội học và Tâm lý học, Viện Thông tin Khoa học xã hội...), Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam, Học viện Ngoại giao, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội và ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), Viện Trần Nhân Tông…

PGS.TS Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phát biểu
PGS.TS Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phát biểu

Các công trình nghiên cứu tập trung vào 3 cụm chủ đề trọng tâm. Ở chủ đề “Nữ giới với bảo tồn, truyền thừa các giá trị văn hóa truyền thống và ký ức lịch sử”, các tham luận tập trung làm rõ vai trò gìn giữ văn hóa của phụ nữ, từ nếp sống gia đình đến không gian tín ngưỡng chùa làng; đồng thời đề cập những khoảng trống trong sử liệu và hành trạng phụng sự của chư vị Trưởng lão Ni.

Với chủ đề “Nữ giới với phát huy các giá trị văn hóa và định hình bản sắc đương đại”, các tham luận đi sâu phân tích những thực hành văn hóa đời thường như ngôn ngữ, ẩm thực, áo dài, nghi lễ, được xem như một dạng “sức mạnh mềm” của cộng đồng người Việt trong và ngoài nước.

Bên cạnh đó là vấn đề bảo tồn nghề thủ công truyền thống, tiêu biểu là nghề dệt thổ cẩm, gắn với sinh kế bền vững và nâng cao vị thế phụ nữ dân tộc thiểu số tại Lạng Sơn, Kon Tum (cũ); phát huy nguồn vốn xã hội trong mạng lưới Ni giới thông qua các mô hình an sinh, y tế, giáo dục mầm non, từ thiện xã hội; cùng sự thích ứng trước làn sóng truyền thông mới và chuyển đổi số.

Ở chủ đề “Định hướng phương pháp luận, thiết chế bảo tàng và chính sách phát triển bền vững”, các học giả thảo luận những vấn đề lý luận về bình đẳng giới, trao quyền thực chất cho phụ nữ trong các thiết chế quản trị xã hội và tôn giáo; phát triển du lịch di sản văn hóa tâm linh, đồng thời đổi mới phương thức tiếp cận của các thiết chế văn hóa thông qua mô hình bảo tồn động dựa vào cộng đồng.

Các bài viết bao quát nhiều không gian địa - văn hóa đa dạng, từ đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn, Kon Tum (cũ) đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài và những nghiên cứu so sánh mang tầm khu vực.

Một trong những điểm nổi bật của hội thảo là việc nhận diện người phụ nữ như một chủ thể sống động trong bảo tồn và trao truyền ký ức lịch sử. Qua khảo sát từ không gian gia đình truyền thống đến các cấu trúc làng xã, các nhà khoa học chỉ ra rằng, phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận, duy trì, tái tạo và trao truyền các chuẩn mực đạo đức qua nhiều thế hệ.

Những giá trị nhân văn như từ bi, hiếu hạnh hay nhân quả không chỉ nằm trong phạm vi giáo lý kinh điển mà còn thẩm thấu sâu vào đời sống thực tiễn qua sự vun đắp của người phụ nữ, hiện diện trong từng nếp nhà, lời ru cho đến phong tục. Đáng chú ý, nhiều tác giả chỉ ra một khoảng trống lớn trong nguồn sử liệu: việc ưu tiên lưu danh các nhân vật lãnh đạo hay người đứng đầu thiết chế đã vô tình làm mờ nhạt dấu ấn và những đóng góp của phụ nữ.

Các đại biểu dự Hội thảo
Các đại biểu dự Hội thảo

Không dừng lại ở việc gìn giữ quá khứ, các tham luận còn cho thấy bước chuyển căn bản của người phụ nữ trong bối cảnh đương đại: từ vị thế bảo tồn thụ động sang chủ thể chủ động lựa chọn, diễn giải, thích ứng và tái tạo các giá trị văn hóa mới.

Thực tiễn điền dã tại các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn và Kon Tum (cũ) cho thấy, khi phụ nữ nắm giữ và phát triển nghề dệt, trang phục thổ cẩm truyền thống, họ không chỉ góp phần bảo lưu bản sắc tộc người mà còn trực tiếp tạo dựng sinh kế bền vững, nâng cao vị thế kinh tế và năng lực tự quyết trong gia đình, xã hội.

Trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, tiếng mẹ đẻ, phong vị ẩm thực và tà áo dài, thông qua sự trao truyền bền bỉ của người phụ nữ, đã trở thành “sức mạnh mềm”, kết nối các thế hệ kiều bào và đóng vai trò như những đại sứ văn hóa tự nhiên trong mắt bạn bè quốc tế.

Trong khi đó, với nữ giới Phật giáo, tinh thần từ bi được chuyển hóa linh hoạt thành nguồn vốn xã hội thông qua hệ thống giáo dục mầm non, y tế từ thiện, các mô hình an sinh và cứu trợ, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của cộng đồng.

Hòa cùng nhịp sống thời đại, các nghiên cứu cũng làm rõ sự chuyển mình của hoạt động báo chí, truyền thông Ni giới trên nền tảng số, các mô hình du lịch tâm linh, đồng thời đưa ra những cảnh báo trước nguy cơ thương mại hóa không gian thiêng và sự đứt gãy ký ức trong kỷ nguyên số.

Đặc biệt, từ góc độ phương pháp luận và quản trị thiết chế văn hóa, các tham luận đã đưa ra nhiều gợi mở đáng chú ý. Nhiều nhà nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt giữa “sự tham gia đông đảo” với “quyền lực ra quyết định thực chất” của nữ giới, từ đó kiến nghị những cơ chế trao quyền cụ thể hơn.

Đây cũng là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình xây dựng chính sách, nhằm bảo đảm phụ nữ không chỉ tham gia vào các hoạt động bảo tồn mà còn có tiếng nói, vai trò và vị thế tương xứng trong việc định hướng, quyết định và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.