
Phát biểu tại tọa đàm giữa Bộ VHTTDL và WB về Báo cáo đánh giá Du lịch Việt Nam, Thứ trưởng Lê Quang Tùng cho biết, Du lịch Việt Nam thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu, trong đó thể hiện rõ nhất là lượng khách và doanh thu những năm gần đây tăng cao. Tuy nhiên sự tăng trưởng “nóng” đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết.
Thứ trưởng dẫn ra số liệu tại Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) công bố năm 2017, Du lịch Việt Nam xếp hạng 67/136 quốc gia, xếp thứ 5 trong ASEAN. Cùng với đó là những vấn đề về môi trường, quản lý điểm đến, hạ tầng quá tải, quảng bá xúc tiến chưa hiệu quả... là những tồn tại chưa giải quyết dứt điểm khiến du lịch Việt Nam khó cạnh tranh với các nước trong khu vực và du lịch Việt Nam vẫn chưa thể đứng trong top đầu của Đông Nam Á.
“Tôi hy vọng, Báo cáo của chuyên gia nhiều kinh nghiệm như WB sẽ đưa ra những giải pháp có tính định hình cho ngành Du lịch Việt Nam, xây dựng được bức tranh toàn cảnh rõ nét và góp phần đưa du lịch Việt Nam phát triển trong thời gian tới, đóng góp thiết thực cho việc xây dựng Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2050”, Thứ trưởng Lê Quang Tùng nói.
Đánh giá của WB cho thấy, Việt Nam đã tiến xa trong phát biển du lịch từ khoảng giữa năm 2000 nhưng hiện nay đang ở thời điểm bùng phát với sự tăng trưởng nhanh chóng, liên tục, nếu không kiểm soát có thể dẫn đến có hại cho nền kinh tế và môi trường.
Theo ông Sebastian Eckardt, Giám đốc Chương trình/phụ trách kinh tế WB, du lịch Việt Nam phát triển thể hiện qua số lượng khách cũng như nhiều điểm đến được thế giới đánh giá cao, hiệu quả của du lịch mang lại đóng góp trực tiếp và gián tiếp vào GDP đất nước, tạo ra nhiều việc làm cho người dân, đóng góp lớn vào xóa đói giảm nghèo nhất là ở những vùng chậm phát triển, vùng sâu vùng xa. “Đặc biệt là du lịch Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển, tuy nhiên cần tập trung nâng cao chất lượng, không nên chạy theo số lượng để đảm bảo 3 yếu tố kinh tế- xã hội- môi trường. Đồng thời, cần chiến lược dài hơi để thực hiện các vấn đề trên”, ông Sebastian Eckardt nhận định.
Các chuyên gia của WB cũng đánh giá, du lịch Việt Nam đã trải qua thời kỳ bùng nổ về lượt khách du lịch quốc tế đến và du lịch nội địa trong thập kỷ vừa qua (2007- 2017). Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp 3 lần trong giai đoạn này, từ 4,2 triệu trong năm 2007 lên 12,9 triệu năm 2017. Mức tăng cao trong 2 năm qua, từ trung bình khoảng 8%/ năm giai đoạn 2007- 2015 lên 27,5% giai đoạn từ 2016- 2017. Du lịch nội địa cũng tăng rất mạnh, gấp 4 lần trong giai đoạn này, từ 19,2 triệu năm 2007 đến 73,4 triệu năm 2017.
Mặc dù đã đạt được những thành tựu như vậy, song du lịch Việt Nam vẫn còn những điểm yếu quan trọng trong năng lực cạnh tranh. Việt Nam còn đi sau trong khu vực về dịch vụ du lịch và cơ sở hạ tầng giao thông, sân bay cũng như việc xếp thứ tự ưu tiên cho ngành Du lịch. Trên cơ sở so sánh toàn cầu, cũng cần chú ý đến điểm yếu của Việt Nam trong lĩnh vực bền vững môi trường (xếp thứ 129 trên toàn cầu)- mặc dù xếp ngang bằng với các quốc gia khác trong khu vực nhưng cả khu vực đều hoạt động rất kém trong khía cạnh này. Đặc biệt, xét về mức độ mở cửa với quốc tế, chế độ thị thực của Việt Nam phần nào cởi mở hơn trong những năm gần đây nhưng vẫn đứng sau so với các chính sách thị thực tương đối cởi mở của các đối thủ cạnh tranh chính trong khu vực.
Hiện nay, phần lớn khách quốc tế đến Việt Nam từ thị trường Đông Bắc Á, nhiều nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Tổng cộng 3 quốc gia này chiếm đến 56% khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2017. Cũng có một tỷ trọng lớn, khoảng 13% khách đến từ các quốc gia Đông Nam Á, sau đó là Mỹ, Nga…
Đánh giá về thị phần khách quốc tế đến Việt Nam, chuyên gia WB cho rằng những thị trường nguồn khách chính của chúng ta chưa thay đổi nhiều trong những năm gần đây nhưng dễ nhận thấy đã có sự tăng lên trong tỷ trọng khách Trung Quốc, Hàn Quốc- là phân khúc khách có mức chi tiêu tương đối thấp hơn các thị trường khác. Đồng thời, do cơ cấu quốc tịch của khách nước ngoài đến Việt Nam đã tập trung hơn nên các kiểu nhu cầu theo mục tiêu chuyến thăm và điểm đến tương đối ổn định. Hơn 2/3 khách quốc tế tiếp tục đến Việt Nam chủ yếu là để nghỉ ngơi và giải trí. Bên cạnh đó, sự thiếu đa dạng về sản phẩm và các địa điểm đang mang đến sự căng thẳng cho hầu hết các điểm đến thường xuyên của khách và tăng nguy cơ quá tải.
Những xu hướng phát triển du lịch này có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng trải nghiệm của khách tại rất nhiều điểm đến của Việt Nam khiến tỷ lệ khách quay lại thấp. Thứ trưởng Lê Quang Tùng cho rằng ngành Du lịch cần phải đặt ra vấn đề “khách quay trở lại” một cách hết sức nghiêm túc vì việc này phản ánh rõ nét nhất sự chuyển đổi từ lượng sang chất.
Thứ trưởng Lê Quang Tùng đánh giá cao nghiên cứu của các chuyên gia WB với cách tiếp cận khách quan, phương pháp đánh giá khoa học, khuyến nghị cụ thể, rất hữu ích với Việt Nam trong phát triển du lịch thời gian tới. “Tôi mong rằng, WB sẽ sớm hoàn thiện báo cáo, xem xét lại các con số cho chuẩn xác. Đồng thời đưa ra những khuyến nghị về chính sách mạnh mẽ hơn những gì chúng tôi đang làm, ứng dụng hiện đại hơn, có tính định hướng, khuyến khích xúc tiến đầu tư vào khu vực tư nhân, đánh giá khách quan hơn về những chuyển biến của du lịch Việt Nam 15 năm gần đây. Những khuyến nghị do WB đưa ra chúng tôi đã nghiên cứu đến, đã nhận thấy từ lâu nhưng còn đang băn khoăn, đặc biệt là vấn đề làm thế nào để chuyển sự tập trung sang chất lượng chứ không phải số lượng, làm thế nào để ít kinh phí mà vẫn quảng bá, xúc tiến đầu tư hiệu quả…”, Thứ trưởng nói.
| Ngành Du lịch cần phải đặt ra vấn đề “khách quay trở lại” một cách hết sức nghiêm túc vì việc này phản ánh rõ nét nhất sự chuyển đổi từ lượng sang chất. (Thứ trưởng Bộ VHTTDL LÊ QUANG TÙNG) |
| Từ cái nhìn tổng thể về du lịch Việt Nam hiện nay, WB cho rằng Việt Nam cần ưu tiên phát triển và có chính sách du lịch có thể giải quyết một số thách thức, khó khăn chính. Trong đó tập trung 5 ưu tiên: đa dạng hóa sản phẩm và thị trường; tăng cường nguồn nhân lực du lịch và liên kết địa phương; quản lý luồng du khách; tăng cường cơ sở hạ tầng, dịch vụ và tiêu chuẩn chất lượng để đảm bảo bền vững môi trường; điều phối chiến lược trong quy hoạch điểm đến và phát triển sản phẩm. |
THÚY HÀ