Tham dự phiên họp có Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng; các Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội; các Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban; đại diện Thường trực Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. 

Kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị

Trình bày tóm tắt Tờ trình của Chính phủ về dự án Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng cho biết, ngành du lịch là một trong những lĩnh vực quan trọng để thực hiện kịch bản tăng trưởng 2 con số của đất nước.

Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh chủ trì phiên họp
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh chủ trì phiên họp

Tuy nhiên, việc sửa đổi toàn diện Luật Du lịch đòi hỏi nhiều thời gian; nhiều cơ chế, chính sách chưa được quy định hoặc chưa đủ mạnh để khơi thông nguồn lực; một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và các lĩnh vực kinh tế đã có nhưng doanh nghiệp du lịch phần lớn không thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi.

Việc ban hành Nghị quyết là đòi hỏi cấp bách nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22.8.2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới; tháo gỡ điểm nghẽn, khắc phục hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và thiết lập một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển du lịch Việt Nam.

Mục đích ban hành Nghị quyết nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các nhóm chính sách có thể thực hiện, kiểm tra và đánh giá; huy động đầu tư vào các dự án du lịch động lực, mô hình kinh doanh du lịch mới, mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm, nhân lực, doanh nghiệp và hạ tầng dịch vụ du lịch.

Bên cạnh đó, góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2030 phát triển mạnh 3 cực tăng trưởng Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng; 10 trung tâm du lịch trọng điểm; 20 khu du lịch quốc gia; 15 tập đoàn, tổng công ty có thương hiệu mạnh; bảo đảm khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú, 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp.

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng trình bày tóm tắt Tờ trình của Chính phủ
Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng trình bày tóm tắt Tờ trình của Chính phủ

Dự thảo Nghị quyết gồm 12 điều, tập trung vào 2 nội dung chính. 

Thứ nhất là Những vấn đề nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chưa được pháp luật quy định hoặc đã có quy định nhưng chưa phù hợp, bao gồm: Chính sách hỗ trợ đối với dự án du lịch chất lượng cao và ưu đãi đối với dự án du lịch động lực; Chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và liên kết cộng đồng trong hoạt động du lịch; Chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với mô hình kinh doanh du lịch mới và hoạt động thử nghiệm có kiểm soát; Chính sách hỗ trợ phát triển nhân lực du lịch; Chính sách thị thực đặc biệt tạo thuận lợi nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với khách du lịch quốc tế; Chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch. 

Thứ hai là về Nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nội dung phân quyền, phân cấp. 

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng cho biết dự kiến trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Nghị quyết tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Khơi thông, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển du lịch

Trình bày tóm tắt dự thảo Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Nghị quyết, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Tạ Văn Hạ cho biết, Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam để kịp thời thể chế hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22.8.2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết 26).

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Tạ Văn Hạ báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Nghị quyết
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Tạ Văn Hạ báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Nghị quyết

Việc ban hành Nghị quyết có đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn, tạo khung khổ pháp lý, cơ chế, chính sách đột phá để khơi thông, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển du lịch.

Thường trực Ủy ban nhận thấy, hồ sơ dự thảo Nghị quyết được chuẩn bị khẩn trương, cơ bản bảo đảm đầy đủ các văn bản và trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tán thành đề nghị của Chính phủ về việc trình Quốc hội ban hành Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Nhận định dự thảo Nghị quyết quy định nhiều cơ chế, chính sách đặc thù cần nguồn lực lớn để triển khai, nhất là tác động đối với quốc phòng, an ninh và ngân sách nhà nước; Thường trực Ủy ban đề nghị đánh giá kỹ tác động, nhất là về tài chính để bảo đảm tính khả thi trong triển khai thực hiện.

Về sự phù hợp của nội dung dự thảo Nghị quyết với chủ trương, đường lối của Đảng, Thường trực Ủy ban nhận thấy, về cơ bản, dự thảo Nghị quyết đã bám sát tinh thần chỉ đạo và thể chế hóa các chủ trương, định hướng lớn của Nghị quyết 26, xác định một số cơ chế, chính sách đặc thù, đột phá để phát triển du lịch và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thời điểm hiện tại.

Quang cảnh phiên họp
Quang cảnh phiên họp

Tuy nhiên, một số nội dung yêu cầu hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo đột phá chiến lược và khơi thông các nguồn lực xã hội phát triển du lịch chưa được đề cập đến trong dự thảo Nghị quyết. Đề nghị tiếp tục rà soát kỹ lưỡng để thể chế hóa đầy đủ các nội dung trong Nghị quyết 26.

Thường trực Ủy ban nhận thấy, các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam tại dự thảo Nghị quyết có liên quan tới nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và một số dự án luật đang trong quá trình trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Việc ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù mới, khác so với quy định của pháp luật nói chung để thúc đẩy phát triển du lịch là cần thiết.

Tuy nhiên, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định tại dự thảo Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm tính khả thi, tính thống nhất, đồng bộ trong quá trình tổ chức thực hiện.

Đồng thời, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát bảo đảm nội dung dự thảo Nghị quyết không ảnh hưởng tới an ninh, quốc phòng; rà soát kỹ các quy định về phân quyền, phân cấp. 

Tán thành với quy định trong dự thảo Nghị quyết theo hướng Nhà nước hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao, nhân lực chuyên sâu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sáng tạo nội dung số về du lịch theo chủ trương, định hướng của Đảng. 

Các đại biểu dự phiên họp
Các đại biểu dự phiên họp

Thảo luận tại phiên họp, các đại biểu cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng, với mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. 

Các đại biểu đã tập trung thảo luận về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Nghị quyết; địa bàn ưu tiên áp dụng chính sách; chính sách hỗ trợ phát triển nhân lực du lịch; chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với mô hình kinh doanh du lịch mới và hoạt động thử nghiệm có kiểm soát; chính sách hoàn thuế VAT tại các địa điểm mua sắm đối với khách du lịch nước ngoài; mô hình du lịch kết hợp chăm sóc sức khỏe, khám bệnh, chữa bệnh; chính sách phát triển du lịch tại khu vực biên giới, cửa khẩu...

Có ý kiến đề nghị cần tạo thuận lợi, rút ngắn thời gian nhập cảnh, xuất cảnh đối với khách du lịch quốc tế; nhấn mạnh chính sách miễn thị thực và thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh thuận lợi đóng vai trò quan trọng trong thu hút du khách nước ngoài. Bên cạnh đó, cần tính toán các giải pháp nhằm giảm giá thành, chi phí chuyến đi của du khách để tăng sức hút cho du lịch Việt Nam. 

Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát các cơ chế, chính sách trong dự thảo Nghị quyết, đảm bảo không trùng lắp với dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa và các dự án Luật khác, do có thể gây khó khăn khi triển khai thực hiện.

Phát biểu kết luận phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Đắc Vinh ghi nhận nỗ lực của cơ quan chủ trì soạn thảo trong quá trình xây dựng hồ sơ dự án Nghị quyết.

Đồng thời, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến đóng góp tại phiên họp; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì thẩm tra để rà soát kỹ lưỡng kỹ thuật lập pháp, bảo đảm thống nhất với pháp luật hiện hành; hoàn thiện dự án Nghị quyết, đảm bảo chất lượng trình Quốc hội.