Công việc đổi khác, sự gắn bó còn nguyên
Trước đây, anh Y Khăm Niê Kđăm đưa voi phục vụ du lịch. Nay, công việc tại Vườn quốc gia Yok Đôn là vào rừng, theo dõi và chăm sóc voi khi chúng tự kiếm ăn, uống nước. Trong ghi nhận của TTXVN ngày 3.11.2026, anh nói: “Được nhìn thấy voi vui vẻ, khỏe mạnh như vậy tôi rất hạnh phúc”.
Lời kể giản dị ấy chạm đến phần khó của mọi cuộc chuyển đổi: người đang sống bằng cách làm cũ sẽ đứng ở đâu trong cách làm mới? Có thể dễ dàng đồng tình với việc chấm dứt cưỡi voi, nhưng để sự đồng tình trở thành thay đổi bền vững, cần có công việc cho người chăm sóc, có nơi cho kinh nghiệm của họ được sử dụng và có lý do để họ tự nguyện đồng hành.
Theo Tổ chức Động vật Châu Á, chương trình tại Yok Đôn làm việc cùng những người chăm sóc voi địa phương, trong đó có các gia đình nhiều thế hệ từng dựa vào dịch vụ cưỡi voi để có thu nhập. Họ được hỗ trợ chuyển sang vai trò hướng dẫn, giáo dục bảo tồn; các chuyến tham quan theo nhóm nhỏ do hướng dẫn viên địa phương đã qua đào tạo dẫn dắt.
Như vậy, tri thức của người gắn bó với voi vẫn có giá trị trong sản phẩm du lịch mới. Khả năng nhận biết hành vi, theo dõi sức khỏe, hiểu những khác biệt giữa từng cá thể trở thành điều du khách cần đến. Người chăm sóc có thêm vai trò giúp khách hiểu vì sao nên dừng lại, giữ khoảng cách, chấp nhận quan sát thay vì yêu cầu con vật chiều theo ý mình.
Đây cũng là cách nhìn thiết thực về vị trí của người dân trong phát triển du lịch. Họ có nghề nghiệp, kinh nghiệm và khả năng góp phần định hình trải nghiệm. Chính sách chuyển đổi sẽ có sức thuyết phục hơn khi nhận ra những giá trị ấy, rồi tạo điều kiện để chúng được sử dụng và trả công xứng đáng.
Giá trị của khoảng cách
Trang thông tin du lịch quốc gia giới thiệu trải nghiệm ở Yok Đôn với những giới hạn rõ ràng: không cưỡi, không tắm cùng voi, không tương tác trực tiếp; khách thậm chí có thể không đến gần con vật. Hướng dẫn viên giải thích các tín hiệu hành vi và điều chỉnh hành trình để voi có thể tự do di chuyển.
Thoạt nhìn, đó là hàng loạt điều khách không được làm. Nhưng đặt trong quan hệ giữa trải nghiệm và trách nhiệm, những giới hạn ấy lại xác định chất lượng của chuyến đi. Người mua tour biết trước mình sẽ được quan sát điều gì, cần ứng xử thế nào và vì sao có những mong muốn không được đáp ứng. Sự minh bạch giúp điểm đến tìm được sự đồng thuận trước khi khách bước vào rừng.
Du lịch thường nói đến việc mang lại nhiều trải nghiệm hơn. Vấn đề là “nhiều hơn” về điều gì. Nếu chỉ tính số hoạt động khách có thể làm, việc bỏ cưỡi voi dễ bị xem như mất bớt sản phẩm. Nếu tính chiều sâu hiểu biết, thời gian quan sát và khả năng nhận ra đời sống của loài vật, cách tổ chức mới mở ra giá trị khác. Khách có thể trở về với câu chuyện về tập tính, về công việc chăm sóc, về những lựa chọn bảo tồn mà trước chuyến đi họ chưa từng nghĩ tới.

Cũng theo ghi nhận của TTXVN, du khách Hoa Kỳ Charlotte Mitchell bày tỏ ấn tượng với câu chuyện bảo tồn và việc có hướng dẫn viên giải thích tập tính của voi. Sự quan tâm ấy cho thấy kiến thức và cách chăm sóc cũng có thể tạo sức hút cho điểm đến.
Từ đây có thể nghĩ rộng hơn về năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Cảnh quan đẹp là lợi thế, nhưng cách tổ chức để khách hiểu và tôn trọng cảnh quan cũng là năng lực nghề nghiệp. Cùng đến rừng, trải nghiệm sẽ khác nhau tùy chất lượng hướng dẫn, mức độ an toàn, sự trung thực trong giới thiệu và cách những người làm du lịch đối xử với môi trường sống quanh mình. Những điều ấy khó thể hiện hết trên tấm biển quảng bá, song lại có thể theo du khách rất lâu sau chuyến đi.
Sinh kế phải đi cùng sự thay đổi
Cảm tình của khách là tín hiệu đáng quý, nhưng chưa đủ để kết luận về hiệu quả kinh tế. Muốn nhân rộng cách làm, cần biết người chăm sóc được hưởng thu nhập ra sao, nguồn lực dành cho bảo tồn có ổn định không, hoạt động vận hành thế nào khi vắng khách. Đó là những câu hỏi cần có dữ liệu, bởi mô hình có trách nhiệm cũng phải có khả năng duy trì trách nhiệm của mình.
Với cơ quan quản lý và đơn vị tổ chức du lịch, hỗ trợ chuyển đổi vì thế cần đi sâu vào công việc: đào tạo hướng dẫn viên, giúp người lao động thích ứng, kết nối thị trường phù hợp, làm rõ tiêu chuẩn dịch vụ và theo dõi chất lượng thực hiện. Nếu chỉ đổi tên tour, thêm lời giới thiệu về bảo tồn mà chưa đổi cách vận hành, sức hấp dẫn sẽ khó bền. Ngược lại, khi người làm nghề có điều kiện sống bằng công việc chăm sóc và giải thích, bảo tồn có thêm lực lượng đồng hành ngay tại chỗ.
Khách du lịch cũng góp phần quyết định hướng đi ấy. Việc chọn và trả tiền cho chuyến tham quan có trách nhiệm tạo ra nhu cầu thị trường cho cách làm tử tế. Sự thay đổi trong ứng xử nhờ đó có cơ sở kinh tế để tiếp tục, thay vì chỉ dựa vào thiện chí của vài người.
Câu chuyện của anh Y Khăm khiến điều thường được gọi là “chuyển đổi mô hình” trở nên gần gũi. Anh vẫn vào rừng, vẫn chăm sóc voi, nhưng công việc đã có ý nghĩa khác trong quan hệ giữa con người và loài vật. Du khách bước xuống khỏi lưng voi cũng là lúc người làm du lịch phải bước sâu hơn vào nghề: hiểu điều mình giới thiệu, chăm lo điều mình dựa vào để sống, và biết giữ lại những giới hạn cần thiết cho ngày mai.
