Đóng góp ý kiến vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch, đa số đại biểu Quốc hội thống nhất với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW, tạo động lực mới để khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Để người dân vừa là chủ thể bảo tồn, vừa là chủ thể phát triển và trực tiếp thụ hưởng thành quả từ du lịch
Nêu quan điểm về phân loại, điều kiện dự án du lịch được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch, đại biểu Vũ Tiến Dũng, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa đề nghị rà soát các tiêu chí phân loại dự án theo hướng cụ thể, định lượng, khả thi; làm rõ căn cứ xác định quy mô vốn đầu tư tối thiểu và tỷ lệ vốn đầu tư dành cho du lịch, tránh quy định điều kiện quá cao, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước và hạn chế khả năng tiếp cận chính sách của các mô hình du lịch quy mô vừa và nhỏ.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đại biểu Vũ Tiến Dũng cho rằng Nghị quyết đáp ứng sự kỳ vọng trong đa dạng các nguồn thu từ kinh tế nông nghiệp, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của địa phương, vùng miền, tăng giá trị thu nhập của người dân trên cùng một đơn vị diện tích.

Trên cơ sở đó, tại khoản 6 Điều 5, về các dự án du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái và du lịch làng nghề truyền thống…, đại biểu Vũ Tiến Dũng đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu thiết kế cơ chế, chính sách riêng, phù hợp với đặc thù của từng loại hình.
Đây là những loại hình du lịch dựa trên tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan nông thôn, giá trị văn hóa, nghề truyền thống và tri thức bản địa; có lợi thế trong tạo việc làm tại chỗ, đa dạng hóa sinh kế, nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.
Tuy nhiên, nếu áp dụng tiêu chí ưu đãi chủ yếu dựa vào quy mô vốn, diện tích đất và mức độ đầu tư xây dựng thì các mô hình do hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp tác và cộng đồng dân cư tổ chức thực hiện sẽ khó tiếp cận chính sách.
Vì vậy, theo đại biểu Vũ Tiến Dũng, cần quy định tiêu chí, điều kiện phù hợp, trong đó coi trọng mức độ tham gia của người dân, khả năng tạo việc làm và tăng thu nhập tại địa phương, giá trị bảo tồn văn hóa, nghề truyền thống, tri thức bản địa và hiệu quả bảo vệ môi trường.
Đặc biệt, phải xác định cộng đồng dân cư là chủ thể thực sự của quá trình phát triển du lịch, chứ không chỉ là đối tượng được hưởng lợi.
Người dân cần được tham gia từ xây dựng ý tưởng, tổ chức thực hiện, quản lý dự án đến trực tiếp cung ứng dịch vụ và thụ hưởng thành quả. Cần khuyến khích các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ liên kết du lịch cộng đồng; tạo điều kiện để hộ gia đình và người dân địa phương tham gia cung cấp dịch vụ lưu trú, ẩm thực, hướng dẫn trải nghiệm, giới thiệu sản phẩm nông nghiệp và nghề truyền thống.
Cùng với đó, đại biểu đề nghị bổ sung các chính sách hỗ trợ thiết thực, dễ tiếp cận về vốn, đào tạo kỹ năng, chuyển đổi số, quảng bá, kết nối thị trường, hoàn thiện hạ tầng thiết yếu, xử lý chất thải và bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa.
Việc hưởng ưu đãi cần gắn với kết quả cụ thể về tạo việc làm, nâng cao thu nhập, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái và gìn giữ bản sắc văn hóa; tránh khai thác tài nguyên đơn thuần, thương mại hóa hoặc làm biến dạng các giá trị truyền thống.
Đại biểu Vũ Tiến Dũng cho rằng, hiệu quả của những dự án này không chỉ được đo bằng quy mô vốn đầu tư hay số lượng khách du lịch, mà quan trọng hơn là người dân có thêm việc làm, sinh kế được cải thiện, văn hóa truyền thống được gìn giữ và tài nguyên quê hương được bảo vệ.
Chính sách phải tạo điều kiện để người dân vừa là chủ thể bảo tồn, vừa là chủ thể phát triển và trực tiếp thụ hưởng thành quả từ du lịch.
Gắn chính sách hỗ trợ với kết quả thực tế
Nêu quan điểm về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch, đại biểu Lê Hoàng Anh, Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai cho rằng, toàn bộ sức nặng tài khóa của dự thảo Nghị quyết với Điều 4, 5, 6 và khoản 1 Điều 7 lại dồn vào ưu đãi thuế, đất cho dự án từ 3.000 đến 30.000 tỉ đồng. Còn những nút thắt thật thì chỉ dừng ở nguyên tắc, nhắc lại luật hoặc giao Chính phủ.
Do đó, đại biểu Lê Hoàng Anh đề nghị cơ quan soạn thảo cân đối lại trọng tâm theo đúng yêu cầu “khu trú, đột phá, không dàn trải” của Kết luận 339.

Theo đó, chuyển trọng tâm từ ưu đãi dựa trên lợi nhuận sang ưu đãi dựa trên chi phí cho khấu hao nhanh tài sản của hạng mục du lịch; chi phí đào tạo nhân lực, xúc tiến thị trường quốc tế được trừ 150-200% khi tính thuế - vừa tạo động lực thật, vừa tương thích thuế tối thiểu toàn cầu.
Theo đại biểu Lê Hoàng Anh, nếu vẫn giữ ưu đãi thuế suất thì phải quy định “cửa sổ” 5 năm: chỉ áp dụng cho các dự án được chấp thuận trong giai đoạn 2027-2031, thời gian hưởng tính theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và bỏ khoản 4 Điều 14 về áp dụng cho dự án đã được chấp thuận trước đó. Vì ưu đãi cho dự án đã quyết định đầu tư không làm thay đổi hành vi, chỉ là chi phí ngân sách.
Đề cập đến hoàn thiện cơ chế đối với các nền tảng kinh doanh du lịch trực tuyến xuyên biên giới, đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo, Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai nhấn mạnh, Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với hoạt động kinh doanh du lịch trên nền tảng số, kinh tế chia sẻ và các nền tảng du lịch trực tuyến xuyên biên giới.
Dự thảo đã xác định kinh doanh trên nền tảng số là một trong những mô hình kinh doanh du lịch mới được xem xét áp dụng chính sách hỗ trợ, ưu đãi. Tuy nhiên, chính sách này chủ yếu hướng đến việc khuyến khích phát triển mô hình mới, chưa làm rõ trách nhiệm của các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới đang tham gia cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp lưu trú, cơ sở kinh doanh du lịch trong nước đang tiếp cận khách hàng thông qua các nền tảng đặt phòng và đặt dịch vụ trực tuyến quốc tế. Các nền tảng này có vai trò quan trọng trong phân phối sản phẩm nhưng cũng có thể tác động đến mức phí hoa hồng, điều kiện giao dịch, khả năng tiếp cận khách hàng và việc giải quyết khiếu nại.
Chẳng hạn, khi khách du lịch đặt phòng qua nền tảng xuyên biên giới rồi phát sinh tranh chấp về hủy đặt phòng, hoàn tiền hoặc chất lượng dịch vụ, việc xác định trách nhiệm giữa nền tảng, cơ sở lưu trú và khách hàng có thể gặp khó khăn.

Đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo ghi nhận Báo cáo tiếp thu, giải trình đã xác định nội dung này sẽ tiếp tục nghiên cứu khi sửa đổi toàn diện Luật Du lịch năm 2027.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ cơ chế quản lý trong giai đoạn chuyển tiếp, nhất là trách nhiệm minh bạch thông tin giao dịch, bảo vệ quyền lợi khách du lịch và bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước với các nền tảng xuyên biên giới.
Đối với việc bổ sung chính sách hỗ trợ doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú có hợp đồng mua, tiêu thụ dài hạn đối với sản phẩm OCOP, đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo đề nghị cân nhắc mở rộng cách tiếp cận từ liên kết mua bán sản phẩm sang liên kết phát triển thị trường và trải nghiệm du lịch.
Bởi thực tế hiện nay, nhiều làng nghề, cơ sở sản xuất đặc sản địa phương không chỉ bán sản phẩm trực tiếp mà còn tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn du khách tham gia sản xuất, giới thiệu sản phẩm thông qua nền tảng số, mạng xã hội và các nhà sáng tạo nội dung.
Một cơ sở làng nghề có thể thu hút khách nhờ video giới thiệu của KOL, KOC, sau đó phát triển hoạt động tham quan, trải nghiệm và tiêu thụ sản phẩm tại chỗ. Giá trị kinh tế tạo ra không chỉ từ hợp đồng mua hàng giữa doanh nghiệp lữ hành với cơ sở sản xuất.
Đại biểu Huỳnh Thị Anh Thảo đề nghị nghiên cứu bổ sung tại khoản 3 Điều 7 cơ chế khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp du lịch với hợp tác xã, hộ sản xuất, làng nghề trong xây dựng sản phẩm trải nghiệm, quảng bá số, kết nối thị trường và tiêu thụ sản phẩm địa phương. Đồng thời, gắn chính sách hỗ trợ với kết quả thực tế như doanh thu, số lượng cơ sở tham gia và khả năng duy trì chuỗi liên kết, tránh chỉ dựa vào việc ký kết hợp đồng.

