Lãng phí công trình nước sạch sinh hoạt ở miền núi Quảng Ngãi - Anh 1

Một trong những công trình nước sạch ở huyện miền núi Trà Bồng dừng hoạt động

Trên địa bàn huyện Trà Bồng hiện có 57/170 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung đã dừng hoạt động, số còn lại hầu hết rơi vào tình trạng “kém bền vững”. Chúng tôi tìm đến thôn Tre, xã Trà Tây, huyện miền núi Trà Bồng mới thấy cảnh người dân chật vật vì thiếu nước sinh hoạt. Những con suối cạn trơ đáy, bể chứa nước của công trình cấp nước sinh hoạt tập trung thì hư hỏng. Ống nhựa dẫn nước nằm chỏng chơ ven đường, trước nhà, cạnh suối. Ông Hồ Văn Truyền, thôn Tre cho biết, ở đây không có giếng khoan, mỗi khi nắng nóng là nước suối cạn nên ai cũng khổ. Tôi phải dùng xô nhựa, lấy nước suối mang về lắng, chắt lấy nước trong để nấu ăn, uống, phần nước đục dùng để tắm rửa.

Lãng phí công trình nước sạch sinh hoạt ở miền núi Quảng Ngãi - Anh 2

Hệ thống ống nước sạch bỏ không nhiều năm liền

Điều đáng nói là, nhà ông Truyền ở ngay cạnh bể chứa nước của công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, nhưng bể khô nước, ống nhựa vỡ toác, các van gỉ sắt. “Khi có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, người dân ai cũng mừng. Nhưng chỉ được thời gian ngắn, công trình cũng chẳng có nước, rồi bỏ hoang, người dân lại khổ vì thiếu nước”, ông Truyền nói. 

Ông Hồ Văn Tính ở xã Sơn Trà, huyệnTrà Bồng cho biết, người dân chúng tôi rất mong mỏi có nước sạch để sử dụng sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong mùa nắng, nhưng tôi thấy, công trình nước sạch nhà nước đầu tư chỉ hoạt động trong thời gian ngắn là “hết nước”.  Mấy năm nay, người dân chúng tôi phải tự mua ống để dẫn nước từ khe suối về sinh hoạt.

Lãng phí công trình nước sạch sinh hoạt ở miền núi Quảng Ngãi - Anh 3

Bể chứa nước không có nước, khiến người dân thiếu nước sinh hoạt

Tại huyện miền núi Ba Tơ, trong số 75 công trình cấp nước sạch nông thôn, chỉ có 3 công trình hoạt động bền vững, còn lại 40 công trình không hoạt động, 22 công trình hoạt động kém bền vững và 10 công trình hoạt động tương đối bền vững. Thậm chí, có công trình đã xây dựng xong nhưng bỏ không, chưa thể nghiệm thu, đưa vào sử dụng vì hư hỏng. Cụ thể như, công trình Sửa chữa, nâng cấp hệ thống cấp nước sinh hoạt thôn Mang Đen, xã Ba Vì, được đầu tư với số tiền 500 triệu đồng.

Theo UBND huyện Ba Tơ, công trình này đã được thi công hoàn thành 100% khối lượng, đảm bảo theo thiết kế được duyệt. Tuy nhiên, tuyến ống từ đầu mối về khu xử lý có chiều dài 150 m của giai đoạn I do ảnh hưởng của mùa mưa lũ năm 2020 đã bị cuốn trôi hư hỏng hoàn toàn, nên không có nước sinh hoạt cho người dân ở các thôn Y Vang và Mang Đen. Đồng thời, không thể cấp nước đến bể chứa của công trình để vận hành giai đoạn tiếp theo, dẫn đến chưa thể chưa thể nghiệm thu đưa vào sử dụng.

Ông Phạm Văn Hay, thôn Y Vang cho biết, khi nhà nước xây dựng công trình cấp nước, người dân trong thôn rất mừng vì không phải đi tìm suối kiếm nước vào mùa khô. Nhưng đã gần 3 năm nay, công trình vẫn chưa cấp nước cho người dân mà đường ống vỡ toác, bể chứa thì bị cỏ dại và đất đá phủ lấp.

Tương tự, tại huyện miền núi Minh Long, tính đến cuối năm 2022, trên địa bàn huyện có 33 công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung được nhà nước đầu tư xây dựng tại các địa phương, song theo thống kê, có đến 19 công trình không hoạt động và 6 công trình hoạt động không bền vững. 

Lãng phí công trình nước sạch sinh hoạt ở miền núi Quảng Ngãi - Anh 4

Một hạng mục của công trình cấp nước sinh hoạt miền núi Quảng Ngãi nằm trong rẫy keo

Với thực trạng hàng loạt công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung hư hỏng, không phát huy được hiệu quả trên địa bàn tỉnh, nhất là ở các huyện miền núi thời gian qua, khiến cho người dân từ mong ngóng, chờ đợi rồi… thất vọng. Hàng trăm hộ dân lại phải tự xoay sở tìm nguồn nước khác để sinh hoạt.

Qua rà soát của Sở NN&PTNT, toàn tỉnh có 513 công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung được đầu tư từ ngân sách nhà nước. Tỷ lệ công trình hoạt động tương đối bền vững, kém bền vững và không hoạt động chiếm khoảng 94,74% tổng số công trình (486/513 công trình); trong đó hầu hết là các công trình thuộc các xã miền núi có quy mô, công suất nhỏ, lại nằm xa khu dân cư và ở những vị trí có địa hình tương đối phức tạp.

Theo đánh giá của Sở NN&PTNT, nguyên nhân công trình kém bền vững và không hoạt động là do công tác quản lý, đầu tư xây dựng còn nhiều thiếu sót. Công trình sau khi đầu tư xây dựng hoàn thành, chủ đầu tư không kiểm tra, đánh giá các thông số đạt được so với thiết kế; không có quy trình quản lý, vận hành; không có kế hoạch đào tạo đội ngũ nhân lực vận hành. 

UBND xã quản lý, sử dụng và khai thác công trình không có cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ để đảm nhiệm; công tác duy tu, bảo dưỡng gần như không thực hiện. Nhận thức của người dân về nước sạch có nâng cao, nhưng còn hạn chế trong công tác sử dụng và bảo quản công trình. Bão lũ hàng năm làm hư hỏng một số hạng mục công trình và đường ống cấp nước nhưng UBND xã, UBND huyện không có kinh phí để sửa chữa dẫn đến hư hỏng lớn làm cho công trình ngừng hoạt động.

Lãng phí công trình nước sạch sinh hoạt ở miền núi Quảng Ngãi - Anh 5

Nhiều hộ dân ở miền núi phải dẫn nước từ sông, suối về để dùng sinh hoạt hằng ngày

Ngoài bất cập trong khâu quản lý, thì qua tìm hiểu của chúng tôi, tại nhiều địa phương, khi khảo sát ban đầu để xây dựng công trình chưa sát thực tế. Nhiều công trình khi khảo sát là lúc mùa mưa, nước nhiều, nhưng khi mùa khô nước cạn không đủ cung cấp cho người dân. Công trình trong nhiều tháng liền không hoạt động dẫn đến hỏng hóc, lâu dần hoang phế, bỏ hoang.

Việc đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với khu vực nông thôn, nhất là người dân các huyện miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Qua đó góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống cho khu vực nông thôn, miền núi. Các công trình cấp nước sạch hoạt động kém hiệu quả và không hoạt động không chỉ gây lãng phí vốn đầu tư mà còn làm giảm niềm tin của người dân.

NHƯ ĐỒNG