50 tiêu chí đo hạnh phúc, từ thu nhập đến chất lượng môi trường sống

Ngày 30.10.2026, UBND TP. Hà Nội ban hành Quyết định số 6004/QĐ-UBND về Bộ tiêu chí và phương pháp khảo sát, đo lường Chỉ số hạnh phúc của người dân Thủ đô giai đoạn 2026-2030.

Đời sống tinh thần, khả năng tiếp cận các không gian văn hóa, vui chơi, giải trí và chăm sóc sức khỏe tinh thần cũng là những yếu tố được Hà Nội quan tâm trong bộ tiêu chí đo lường mức độ hạnh phúc của người dân. Ảnh: Tuấn Đông
Đời sống tinh thần, khả năng tiếp cận các không gian văn hóa, vui chơi, giải trí và chăm sóc sức khỏe tinh thần cũng là những yếu tố được Hà Nội quan tâm trong bộ tiêu chí đo lường mức độ hạnh phúc của người dân. Ảnh: Tuấn Đông

Bộ tiêu chí gồm 5 nhóm, mỗi nhóm có 10 tiêu chí, bao quát các mặt của đời sống đô thị. Cụ thể: Đời sống kinh tế, việc làm và khả năng phát triển; quan hệ gia đình, cộng đồng và xã hội; dịch vụ xã hội, an sinh và phúc lợi; văn hóa, môi trường sống, không gian đô thị và chất lượng sống; quản trị đô thị, an toàn, kỷ cương và niềm tin xã hội.

Điểm đáng chú ý là nhiều vấn đề người dân thường xuyên đối mặt trong sinh hoạt hằng ngày được đưa vào khảo sát. Thay vì chỉ đánh giá kết quả phát triển qua các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, thành phố sẽ tìm hiểu người dân cảm nhận thế nào về nơi ở, môi trường, việc đi lại, dịch vụ công và mức độ an toàn.

Theo đó, chất lượng không khí, vệ sinh môi trường, thu gom rác thải, xử lý nước thải, khả năng thoát nước và tình trạng ngập úng tại khu vực sinh sống đều thuộc nhóm tiêu chí về môi trường và chất lượng sống. Khả năng tiếp cận công viên, cây xanh, mặt nước và không gian công cộng cũng được đưa vào đánh giá.

Đối với giao thông, thành phố xem xét chất lượng đi lại hằng ngày, trong đó có thời gian di chuyển, tình trạng ùn tắc và khả năng tiếp cận giao thông công cộng. Như vậy, trải nghiệm của người dân khi đi làm, đưa đón con, tiếp cận các dịch vụ thiết yếu sẽ trở thành một căn cứ phản ánh chất lượng sống đô thị.

Cách tiếp cận này giúp những vấn đề vốn thường được nhìn nhận qua các báo cáo về hạ tầng, môi trường có thêm một thước đo từ phía người thụ hưởng. Một tuyến đường được mở rộng hay một công viên được xây dựng chưa đồng nghĩa chất lượng sống đã được cải thiện nếu người dân vẫn mất nhiều thời gian đi lại hoặc khó tiếp cận không gian công cộng.

Giá nhà, khả năng chi trả và những vấn đề sát sườn với người dân

Trong nhóm tiêu chí về đời sống kinh tế, Hà Nội đánh giá khả năng thu nhập đáp ứng nhu cầu thiết yếu, mức độ ổn định của việc làm, sinh kế, khả năng dự phòng tài chính và cơ hội nâng cao thu nhập.

Đáng chú ý, chất lượng và mức độ phù hợp của nhà ở cũng được đưa vào nhóm tiêu chí về văn hóa, môi trường sống, không gian đô thị và chất lượng sống. Đây là nội dung liên quan trực tiếp đến điều kiện an cư, đặc biệt trong bối cảnh chi phí nhà ở tại Hà Nội đang là áp lực đối với nhiều người lao động, người trẻ và các hộ gia đình có thu nhập trung bình.

Tuy nhiên, bộ tiêu chí không đơn thuần đo giá bán căn hộ hay giá đất trên thị trường. Nội dung khảo sát tập trung vào chất lượng, sự phù hợp của nhà ở và khả năng bảo đảm điều kiện sinh hoạt. Khi đặt cùng tiêu chí về thu nhập, việc làm và khả năng đáp ứng nhu cầu thiết yếu, kết quả có thể phản ánh rõ hơn áp lực kinh tế mà người dân gặp phải trong việc duy trì cuộc sống tại Thủ đô.

Bên cạnh nhà ở, thành phố còn khảo sát khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa và an sinh xã hội; mức độ hài lòng với chất lượng dịch vụ công. Người dân cũng được đánh giá về khả năng tham gia góp ý đối với quy hoạch, dự án và chính sách có tác động trực tiếp đến nơi ở, đời sống.

Ở nhóm quản trị đô thị, an toàn và niềm tin xã hội, các nội dung được quan tâm gồm cảm giác an toàn về người và tài sản, an toàn giao thông, phòng cháy chữa cháy, an toàn thực phẩm, bảo vệ thông tin cá nhân, mức độ công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền.

Như vậy, chỉ số hạnh phúc không chỉ phản ánh điều kiện vật chất mà còn xem xét khả năng người dân được lắng nghe, được bảo vệ và tham gia vào các quyết định liên quan đến cuộc sống của mình.

Khảo sát tại 126 xã, phường, công bố kết quả hằng năm

Theo phương án của thành phố, đối tượng khảo sát là công dân từ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi và đang cư trú tại Hà Nội, không giới hạn người có hộ khẩu thường trú. Người tạm trú, thuê nhà và lao động di cư đã cư trú từ 6 tháng trở lên cũng thuộc diện khảo sát nếu đáp ứng các điều kiện theo phương án hằng năm.

Năm 2026 được xác định là năm cơ sở, thành phố dự kiến thu thập 8.860 phiếu khảo sát trực tiếp tại 126 xã, phường, tương đương khoảng 1‰ dân số Thủ đô. Trong đó, 51 phường được phân bổ 4.240 phiếu và 75 xã được phân bổ 4.620 phiếu. Từ năm 2027 đến năm 2030, quy mô mẫu dự kiến tăng lên khoảng 2‰ dân số mỗi năm.

Người tham gia khảo sát sẽ đánh giá từng tiêu chí theo 5 mức độ, từ thấp đến cao. Các mức này lần lượt được quy đổi thành 2, 4, 6, 8 và 10 điểm. Điểm của từng tiêu chí được tổng hợp thành điểm nhóm, sau đó tính toán chỉ số hạnh phúc chung theo phương pháp quy định.

Khảo sát trực tiếp được thực hiện trong quý IV hằng năm. Thành phố cũng tiếp nhận phản hồi tự nguyện qua ứng dụng iHanoi và các nền tảng chính thức khác. Tuy nhiên, dữ liệu trực tuyến được báo cáo riêng để theo dõi xu hướng, phát hiện vấn đề và hỗ trợ phân tích, không cộng trực tiếp vào mẫu khảo sát chính thức để tính chỉ số hạnh phúc.

Kết quả sẽ được tổng hợp, kiểm định và dự kiến công bố vào dịp Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20.3 hằng năm. Theo định hướng được công bố, Hà Nội phấn đấu đưa chỉ số hạnh phúc của người dân đạt 9/10 vào năm 2030.

Việc xây dựng chỉ số hạnh phúc là bước cụ thể hóa định hướng phát triển Thủ đô lấy người dân làm trung tâm. Giá trị của bộ tiêu chí không chỉ nằm ở điểm số chung mà còn ở khả năng nhận diện những vấn đề cụ thể tại từng địa bàn: nơi nào người dân chưa hài lòng về giao thông, khu vực nào còn thiếu không gian xanh, chất lượng môi trường ra sao, khả năng tiếp cận nhà ở và dịch vụ thiết yếu có được bảo đảm hay không.

Khi được duy trì hằng năm, kết quả khảo sát có thể trở thành một kênh thông tin để thành phố theo dõi sự thay đổi về chất lượng sống, xác định những lĩnh vực cần ưu tiên và đánh giá hiệu quả chính sách. Quan trọng hơn, chỉ số chỉ thực sự có ý nghĩa khi những phản ánh của người dân được chuyển thành giải pháp cụ thể, từ giảm ùn tắc, cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng nhà ở đến mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ đô thị.