Sân khấu nhỏ xuất hiện đúng lúc và kịp thời, vào chính thời điểm sân khấu lớn đang rơi vào tình trạng đau ốm, thậm chí khủng hoảng người xem, đến mức chưa bao giờ sân khấu vắng vẻ người xem đến thế, và cũng chưa bao giờ cái mạch đập kịch trường hằng đêm, vốn là mạch đập của sự sống sân khấu, đã bị đứt đoạn trong một thời gian dài đến thế, kể từ sau hội diễn sân khấu toàn quốc 1990.

Sân khấu hướng đến khán giả tử tế - Anh 1

 Vở “Kiều” của Nhà hát Kịch Việt Nam

Từng có quan hệ tử tế giữa sân khấu và khán giả

Khi sân khấu lớn, được hiểu là những vở diễn lớn, đầu tư bằng tiền của Nhà nước, được bao cấp hoàn toàn ở các đơn vị sân khấu Nhà nước đã rời bỏ “bầu sữa” Nhà nước hoặc toàn phần hoặc không toàn phần, để bước vào sân khấu thời kinh tế thị trường, thì chính là sân khấu lớn này đã lao đao, chao đảo và bỡ ngỡ trước tình thế mới. Không còn nữa những vở diễn gây chấn động xã hội, buộc người xem phải xếp hàng rồng rắn để mua vé, đặng vào xem cho bằng được. Bởi, những vấn đề đặt ra từ vở diễn luôn nóng bỏng ý nghĩa xã hội, tác động tích cực vào tâm trí người xem. Thậm chí, cao hơn, có khả năng thay đổi nhận thức và hành vi xã hội của người xem. Thí dụ ở thập kỉ 80, tại sân khấu thủ đô Hà Nội là các vở diễn như Mùa hè ở biển, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Dòng sông ám ảnh, rồi bộ chèo 3 vở Bài ca giữ nước, Nhân danh công lý và thập kỉ 90 là những vở của các đạo diễn gạo cội Việt Nam, như Nguyễn Đình Nghi, Đình Quang, Doãn Hoàng Giang, Xuân Huyền, Lê Hùng…, dàn dựng từ kịch bản Lưu Quang Vũ đã tiếp tục gây chấn động người xem với hiện tượng… cháy vé.

Ở Hà Nội, đô thị trung tâm của sân khấu cả nước, thì trong những năm cuối của thập kỉ khép lại thế kỉ XX, sân khấu thể loại kịch cũng chỉ tồn tại một cách thoi thóp cầm chừng ở 3 đơn vị sân khấu chủ yếu: Nhà hát Kịch Việt Nam, Nhà hát Kịch Hà Nội và Nhà hát Tuổi Trẻ. Sân khấu ở TP.HCM, một đô thị lớn nhất nước, cũng không cách gì thoát khỏi lực hút của tình hình chung. Vốn là một kịch trường lớn, sôi động, với một trời sao các giọng ca vàng cải lương mang đậm tính cách con người và miền đất Nam Bộ, đã từng thu hút người xem chật rạp hằng đêm và từ nhiều năm nay, thể loại kịch đã được “Nam Bộ hóa” đến mức thành phong cách riêng của kịch Nam Bộ, thì sau năm 1990, cả sân khấu cải lương lẫn sân khấu kịch đã xuống sắc nhỡn tiền. Vì thế, ai cũng hy vọng vào sự xuất hiện một cái gì đó mới mẻ để cứu nguy cho sân khấu chung.

Và không ngẫu nhiên, sân khấu nhỏ đã xuất hiện đầu tiên ở TP.HCM như một sự năng động mở đầu, với những thành công liên tiếp của các liên hoan: Liên hoan sân khấu nhỏ 1988-1989, tiếp đến là Liên hoan sân khấu nhỏ toàn quốc lần thứ nhất năm 1991 tại Quảng Ninh và đặc biệt là Liên hoan sân khấu nhỏ toàn quốc tháng 5.1993 tại TP.HCM, mà trong đó, nổi lên những vở thành công nhất đã thuộc về sân khấu nhỏ của TP.HCM, với điểm sáng là sân khấu 5B Võ Văn Tần. Những vở diễn thuộc hình thái kịch sân khấu nhỏ của sân khấu TP.HCM thời ấy, đặc biệt thành công nhất là Dạ cổ hoài lang và tiếp đó là Chuyện lạ, Diễn kịch một mình, Ngôi nhà không có đàn ông, Đứa con tiền kiếp, Đừng đùa với tình yêu, Thây ma sống, Giấc mộng kê vàng, Người đàn bà mộng du, Chuyện bây giờ mới kể… Đây là những vở diễn đã quyến rũ được công chúng yêu kịch của TP.HCM, hằng đêm đã lôi cuốn họ đến với ánh đèn sân khấu, giải tỏa, tháo gỡ và đối thoại với họ về những buồn vui sướng khổ, những vấn đề thiết thực đang đặt ra với họ trong những câu chuyện hôm nay của đời sống xã hội hiện đại. Tất nhiên, sân khấu nhỏ không phải là sân khấu lớn, nó vốn nhỏ về tiền bạc đầu tư, về phương tiện kĩ thuật, về cả số lượng người xem và chủ yếu dùng vào mục đích thử nghiệm. Nên hình thái này hoàn toàn thích hợp với thời điểm mà chính nó đã ra đời, như một giải pháp tình thế mà khả thi cho sự vãn hồi mạch đập kịch trường và tìm lại khán giả đã mất của một thời vàng son sân khấu…

Như thế, sau một thời gian dài hàng thập kỉ vắt từ cuối thế kỉ XX sang đầu XXI, sân khấu nhỏ đã là một hình thái biết tự vượt lên chính bản thân mình, với tư cách vãn hồi sân khấu lớn, với sự thử nghiệm, nghiệm sinh cho sân khấu lớn quay lại, đã chính thức hội nhập vào sự phát triển của sân khấu Việt hiện đại trong một thời tiết sân khấu bất thường, và tỏ ra thích ứng với khẩu vị thẩm mỹ mới của công chúng sân khấu đô thị thời bắt đầu mở cửa.

Chỉ cósân khấu tử tế mới mong có khán giả

Song, khi đã làm trọn sứ mệnh của mình, theo quy luật phát triển, sân khấu nhỏ đương nhiên phải nhường chỗ cho một hình thái sân khấu khác phù hợp hơn với thời tiết sân khấu mới, đó là sự nảy sinh của hình thái sân khấu mới, được mang tên là “xã hội hóa hoạt động sân khấu”, cũng được khởi đầu mạnh mẽ, có hiệu ứng tốt, trước hết là với công chúng TP.HCM. Đó có thể là biện pháp mới của sân khấu đô thị Hồ Chí Minh, muốn tự thân đổi mới để đi tìm khán giả, bằng cách tự đứng ra tổ chức đơn vị sân khấu tư nhân, theo sáng kiến của cá nhân, hay một nhóm bạn bè, tự bỏ tiền riêng, hoặc gom tiền bạc đóng góp hảo tâm từ các Mạnh Thường Quân và hoàn toàn không trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước, trên một tinh thần văn hóa lành mạnh “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Vì thế sân khấu TP.HCM, trong thập niên đầu thế kỉ XXI, đã được xã hội hóa rộng rãi và đã thành sân khấu sáng đèn nhất trong cả nước - sáng đèn hằng đêm, không hề đứt mạch kịch trường, nhất là sân khấu thể loại kịch, mà nổi bật nhất là sân khấu kịch IDECAF của ông bầu Huỳnh Anh Tuấn.

Cho đến hôm nay thì sân khấu kịch trường hằng đêm của các đô thị Việt đã gần như mất trắng vào tay của sân khấu truyền hình, với sự lấn lướt của truyền hình nói chung và truyền hình thực tế, đặc biệt là những chương trình giải trí mua fomat từ nước ngoài.

Tất nhiên, sân khấu kịch trường hằng đêm (vốn là sân khấu tươi sống, không đóng hộp như sân khấu truyền hình) đã và đang nỗ lực chống trả bằng cách lấy lại người xem hằng đêm đã mất.

Đã đến lúc, chỉ có sân khấu tử tế có chất lượng cao trong tính đặc thù của nó, là đối thoại trực tiếp bằng vở diễn sân khấu với người xem, về những vấn đề xã hội, dân sinh đang khiến họ trăn trở, kiếm tìm, hoài vọng… thì mới khiến người xem tử tế quay trở lại. Chương trình đưa các chương trình âm nhạc, vở diễn sân khấu chất lượng cao vào Nhà hát Lớn và bán vé cho đông đảo người xem có thể vào xem ở Nhà hát Lớn Hà Nội đã và đang được Bộ VHTTDL tiến hành, cho thấy quyết tâm lấy lại công chúng tử tế bằng những vở diễn tử tế. Công cuộc này đang làm lóe lên hy vọng cho người yêu sân khấu ở Việt Nam. Lẽ nào không mừng vui với sự tử tế trở lại, ấm áp tình thân trở lại trong mối quan hệ giữa sân khấu hiện đại và công chúng hiện đại hôm nay?

 PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái