
Liên thông thay vì mạnh ai nấy làm
Một thư viện có nhiều tài liệu số nhưng thiếu kết nối vẫn chỉ phục vụ một nhóm độc giả. Thực tế ấy đòi hỏi thay đổi cách đầu tư thư viện. Ở nhiều nơi, các hệ thống được xây dựng riêng lẻ, thiếu chuẩn liên thông, dẫn đến tình trạng trùng lặp nguồn lực nhưng khả năng khai thác còn hạn chế.
Khó khăn càng rõ hơn tại thư viện phường, xã, trường phổ thông và những cơ sở giáo dục quy mô nhỏ. Kinh phí hạn hẹp, thiếu nhân sự công nghệ và năng lực quản trị khiến việc đầu tư một hệ thống số hoàn chỉnh trở thành gánh nặng. Nhu cầu tìm kiếm học liệu trực tuyến lại ngày càng đa dạng. Nếu đơn vị nào cũng tự mua phần mềm, thiết lập kho lưu trữ và vận hành độc lập, khoảng cách về chất lượng phục vụ khó được thu hẹp.
Vấn đề này đã được trao đổi tại hội thảo Thư viện số dùng chung - Từ mô hình đến giải pháp triển khai, tổ chức vừa qua tại Trường Đại học Văn hóa TP.HCM. Theo PGS.TS Nguyễn Thế Dũng, phát triển thư viện số dùng chung là xu hướng gắn với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, xây dựng hạ tầng công nghệ, chuẩn liên thông và phát triển tài nguyên số. Song song với đó là đổi mới phương thức phục vụ theo nhu cầu người sử dụng, nâng cao chất lượng nhân lực và tăng cường hợp tác giữa các đơn vị.
Điểm quan trọng là “dùng chung” không đồng nghĩa gom mọi tài liệu vào một kho duy nhất. Thư viện có thể kết nối để chia sẻ nền tảng kỹ thuật, công cụ tìm kiếm, dữ liệu phù hợp và một số dịch vụ, trong khi vẫn quản lý bộ sưu tập và hoạt động riêng. Cách làm này giúp các đơn vị quy mô nhỏ tiếp cận công nghệ mà không phải gánh toàn bộ chi phí đầu tư, bảo trì.
Ông Nguyễn Anh Dũng, nhà sáng lập, Tổng Giám đốc ViLIB nhấn mạnh sự khác biệt giữa dùng chung hạ tầng và tập trung tất cả nguồn lực. Theo mô hình được giới thiệu, các thư viện có thể sử dụng chung phần mềm quản trị, chuẩn dữ liệu, năng lực lưu trữ, tìm kiếm và thống kê. Tuy nhiên, tên gọi, tài khoản quản trị, dữ liệu nội sinh, bộ sưu tập cùng quyền quyết định đối với tài nguyên vẫn thuộc từng thư viện.
Ranh giới ấy giúp mỗi đơn vị giữ quyền tự chủ. Điều này có ý nghĩa thiết thực với địa phương thiếu nguồn lực đầu tư công nghệ. Một thư viện trường học có thể tiếp cận hạ tầng chung nhưng vẫn chủ động xây dựng học liệu cho chương trình giảng dạy; thư viện cơ sở có thể phục vụ bạn đọc địa phương mà không phải tự phát triển mọi công cụ kỹ thuật. Hiệu quả vì thế cần đo bằng số lượt khai thác, mức độ đáp ứng nhu cầu và chất lượng dịch vụ, chứ không chỉ bằng số tài liệu được số hóa hay số tài khoản đăng ký.
Đừng để số hóa chỉ là những kho tài liệu đóng kín
Điều đáng suy nghĩ là trong khi công nghệ ngày càng giúp con người kết nối dễ dàng hơn, không ít thư viện số vẫn hoạt động riêng lẻ, khiến nguồn tài nguyên được đầu tư công phu chưa đến được với nhiều người đọc. Một tài liệu đã số hóa nhưng khó tìm kiếm, không thể chia sẻ hoặc thiếu người hướng dẫn khai thác thì giá trị sử dụng vẫn rất hạn chế. Bởi vậy, xây dựng thư viện số dùng chung cần bắt đầu từ nhu cầu thực tế của người đọc, có cơ chế liên thông, quản lý bản quyền và trách nhiệm vận hành rõ ràng. Sau cùng, hiệu quả chuyển đổi số phải được nhìn từ những người thực sự tiếp cận và sử dụng tri thức, chứ không phải số lượng kho dữ liệu được tạo ra.
Có nền tảng chung, chưa đủ để chia sẻ
Nếu kết nối kỹ thuật giúp người dùng tìm đến nhiều nguồn tư liệu hơn, quyền khai thác lại quyết định họ thực sự được đọc và sử dụng những gì. Số hóa không đồng nghĩa được tự do sao chép hay chia sẻ tài liệu. Đây là điểm dễ phát sinh vướng mắc khi mở rộng mạng lưới thư viện số.
Tại hội thảo, TS Thái Thu Hoài, Trường Đại học Văn hóa TP.HCM đề cập quan hệ giữa xuất bản và thư viện trong kỷ nguyên số, nhấn mạnh yêu cầu kết nối song hành với bảo đảm bản quyền. Thư viện muốn mở rộng nguồn học liệu cần có cơ chế phối hợp rõ ràng với tác giả, nhà xuất bản và các chủ sở hữu quyền, thay vì chỉ trông chờ giải pháp công nghệ.
Từ góc độ pháp lý, ThS Ngô Nguyễn Cảnh, Trường Đại học Luật TP.HCM chỉ ra những rào cản liên quan đến giới hạn sao chép, mô hình mượn kỹ thuật số có kiểm soát và phạm vi ngoại lệ khai thác văn bản, dữ liệu phục vụ huấn luyện trí tuệ nhân tạo. Ông đề xuất hoàn thiện pháp luật, phát triển cơ chế cấp phép tập thể, tích hợp công cụ quản trị quyền trên hạ tầng liên thư viện, đồng thời thúc đẩy tài nguyên mở.
Những vấn đề này cho thấy chia sẻ tài nguyên phải bắt đầu từ việc xác định nguồn gốc, tình trạng quyền và phạm vi sử dụng của từng tài liệu. Thông tin bản quyền cần được ghi nhận ngay khi tiếp nhận, số hóa, đưa vào hệ thống. Nếu để đến lúc người đọc phát sinh nhu cầu mới kiểm tra quyền khai thác, sự thuận tiện mà mô hình dùng chung hứa hẹn sẽ khó thành hiện thực.
Bên cạnh quy định pháp luật, hợp tác giữa thư viện, cơ sở giáo dục, nhà xuất bản, tác giả và doanh nghiệp công nghệ cần được xây dựng trên trách nhiệm cụ thể. Ai cung cấp tài nguyên, ai quản lý quyền truy cập, ai chịu trách nhiệm khi dữ liệu bị sử dụng sai phạm vi là những câu hỏi phải có lời giải trước khi mở rộng mạng lưới. Chỉ khi đó, khả năng kết nối mới đi cùng sự tin cậy.
Ở bậc đại học, lợi ích của thư viện số dùng chung còn gắn trực tiếp với chất lượng đào tạo. Theo ThS Nguyễn Hải Gian, Trường Đại học Văn hóa TP.HCM, thư viện số giúp giảng viên mở rộng nguồn học liệu, đổi mới phương pháp giảng dạy; giúp sinh viên, nhà nghiên cứu tiếp cận tài liệu thuận tiện hơn và lưu giữ các kết quả nghiên cứu của nhà trường. Nguồn dữ liệu này còn có thể phục vụ quản trị, bảo đảm chất lượng và phân bổ nguồn lực.
Tuy vậy, một kho tài liệu trực tuyến dù phong phú cũng khó phát huy tác dụng nếu đứng ngoài hoạt động dạy và học. Thư viện cần gắn với chương trình đào tạo, nhu cầu của giảng viên, sinh viên và công việc nghiên cứu. Tương tự, ở địa phương, dịch vụ số phải tính đến thói quen đọc, kỹ năng sử dụng thiết bị và điều kiện kết nối của từng nhóm bạn đọc. Người không quen thao tác trên nền tảng số cần được hướng dẫn để thực sự tiếp cận tài nguyên.
Cùng với phần mềm và đường truyền, đội ngũ làm thư viện giữ vai trò quyết định. Nhân viên cần được tập huấn về quản trị dữ liệu, bản quyền, hỗ trợ người sử dụng; các đơn vị cũng cần thí điểm, đánh giá trước khi nhân rộng. Nếu chỉ đầu tư hệ thống mà không bố trí người vận hành, cập nhật và giới thiệu nguồn tài liệu, thư viện số có nguy cơ trở thành một kho lưu trữ ít người ghé tới.
Để thư viện số dùng chung phát huy hiệu quả, điều cần thiết là một cơ chế hợp tác rõ ràng giữa các đơn vị, từ đầu tư hạ tầng, quản lý tài nguyên đến tổ chức phục vụ bạn đọc. Khi các thư viện có thể chia sẻ nguồn lực mà vẫn giữ được quyền tự chủ, người đọc sẽ có thêm cơ hội tiếp cận những tài liệu trước đây chỉ nằm trong phạm vi một cơ sở. Đó cũng là cách từng bước nối những “ốc đảo” tri thức, để nguồn tài nguyên đã được đầu tư, số hóa có thể phục vụ rộng rãi hơn cho học tập, nghiên cứu và đời sống cộng đồng.

