
Nhà tôi ở gần ngã tư Thị trấn Sao Đỏ, nay là Thị xã Chí Linh (Hải Dương). Thị trấn vùng trung du mấy chục năm trước nhà cửa thưa thớt. Nằm trên phố chính nhưng nhà nọ, cách nhà kia cả khu vườn rộng ngàn mét vuông. Ngã tư Thị trấn có tấm bảng tin kích thước khoảng 5mx3,5m, dùng để ghi khẩu hiệu, hoặc hình ảnh tuyên truyền. Trên nóc bảng tin có chiếc loa to phát các chương trình của Đài tiếng nói Việt Nam vào các buổi sáng, trưa và tối. Chiếc loa là phương tiện duy nhất tiếp nhận thông tin và giải trí của nhiều gia đình trong Thị trấn. Một số gia đình có radio nhưng nghe đài tập thể cũng là một cái thú của người dân thị tứ vùng trung du này.
Ngày Tết, dân Thị trấn ăn Tết từ ngày 27 tháng Chạp. Nửa đêm về sáng, tiếng lợn kêu xé rách màn đêm, tiếng người gọi nhau, xôn xao phố vắng.
Các gia đình “đụng lợn”, cứ 3-4 nhà thịt chung một con. Trời lạnh cắt da, tôi bước xuống giường đã thấy một chậu thịt, xương các loại ở cửa. Vì “đụng lợn” nên nhà ai cũng có đủ phần từ thủ lợn, lòng lợn, thịt, chân giò…Tôi cùng mẹ mang chậu thịt ra giếng phía sau nhà để pha chế. Nhiệt độ có năm xuống 5-6 độ C, tay tôi đỏ tấy, môi xám ngoét vì lạnh nhưng trong lòng lại râm ran ấm nóng. Cái cảm giác Tết đang đến gần. Ý nghĩ, chỉ lát nữa thôi, các anh chị công tác tại Hà Nội sẽ về ăn Tết khiến lòng tôi như Tết sớm. Ngày đó, từ Hà Nội về Sao đỏ chỉ có 1 chuyến xe duy nhất. Xe về lúc chạng vạng, cả Thị trấn rộn ràng đón người thân. Bữa cơm tất niên sớm của các gia đình bao giờ cũng là tiết canh, lòng lợn- món không thể cất giữ trong điều kiện không có tủ lạnh và dù ở ngay gần nhà máy nhiệt điện Phả Lại nhưng lại chả mấy khi có điện. Đèn dầu leo lét nhưng thấy rõ mặt từng thành viên trong nhà. Có lẽ cảm giác Tết sum họp khiến mọi người nhìn nhau rõ hơn. Bữa ăn rộn rã tiếng cười. Các anh chị kể thành tích công tác, học tập của mình. Bố tổng kết những việc của gia đình đã làm được trong năm. Mẹ lặng lẽ nhìn mọi người ăn, mỉm cười, mắt rớm lệ.
Nhà đông anh em nên năm nào mẹ cũng gói bánh bằng 2 thúng gạo nếp. Nồi luộc bánh là thùng phi đựng nhựa đường đã làm sạch. Bà ngoại và mẹ gói bánh không có khuôn nhưng cực kỳ vuông vức. Từ ngày đó, tôi đã biết gói bánh chưng, biết pha muối vào gạo sao cho vừa đủ đậm, làm sao miếng thịt làm nhân bánh không quá mỡ, không dư nạc; ép bánh thế nào để bánh rền, dẻo.
Mẹ biết nghề may, lại làm ở cửa hàng bách hóa, có thể xin được tem phiếu mua vải nên năm nào anh em tôi cũng có quần áo mới. Đêm 30 Tết, khi mẹ mải miết những đường may cuối cùng, chúng tôi vội vã ra bảng tin ở ngã tư tìm một chỗ trống để ngồi. Muộn một chút là hết chỗ. Người dân thị trấn, cách bảng tin cả mấy ki lô mét cũng đã tụ tập về đó. Có những năm trời mưa phùn, rét cắt da, mọi người mặc áo mưa ngồi sát bên nhau để tránh cơn gió lùa. Ai cũng háo hức chờ nghe chương trình Sân khấu truyền thanh đêm giao thừa.Vở diễn tôi nhớ nhất là vở chèo Nhiếp chính Ỷ Lan. Trong không gian tĩnh lặng của đêm giao thừa lạnh giá, chỉ còn tiếng hát, tiếng phách, tiếng đàn lan tỏa… Mọi người quên mất cái lạnh, tôi cũng vậy, đang tuổi 14-15, mắt mở to trong đêm, tim cũng bắt đầu rộn ràng khi vở chèo đến đoạn nhà vua gặp cô gái hái dâu. Vở diễn kết thúc, mọi người mới bừng tỉnh và cảm nhận nước mưa đang thấm vào người. Tôi chạy ào về nhà. Vội vã lấy cám gạo trộn vào nước, trám quanh chiếc chõ đất dùng đồ xôi. Mẹ đổ gạo đã trộn gấc đỏ vào nồi, đặt lên bếp cạnh nồi bánh chưng đang tỏa hương nếp chín. Bố chuẩn bị đồ dùng vớt và ép bánh. Mấy anh em tôi quây quanh bếp lửa, dùng chiếc nan hoa xe đạp bỏ đi xiên hành khô nướng trên than hồng. Hành nướng có mùi thơm quyến rũ, khi ăn vị ngọt tan nơi đầu lưỡi. Những sợi miến dài cũng được nướng trên than nở phồng . So với các loại bánh bây giờ, miến nướng ngày đó là đặc sản tuyệt tác với trẻ em nghèo. Trong lúc nướng hành và miến, chúng tôi vẫn ngó nghiêng chiếc thúng treo trên quang ở góc bếp. Đợi bố mẹ ra ngoài, anh em tôi lấy ghế hạ chiếc quang xuống. Trong thúng là chiếc nồi to. Mở vung, mấy anh em ngẩn mặt xuýt xoa vì mùi thơm của thịt, mùi ngậy của mỡ. Do không có tủ lạnh nên ngày đó thịt được tẩm ướp, rim khô; hoặc để cả miếng to cỡ vài gram/ miếng, rán xém các cạnh, đặt vào nồi và đổ mỡ nước lên. Mỡ gặp lạnh đông nhanh, trở thành chiếc tủ lạnh lý tưởng giữ cho thịt không bị ôi, thiu.
Giao thừa đến, tiếng pháo đì đùng khắp thị trấn. Không ai bảo ai nhưng các nhà đều đốt pháo chênh nhau vài phút để “đọ” xem pháo nhà ai nổ rền hơn, hay hơn. Mẹ bưng mâm cúng giao thừa ra sân. Con gà vàng ruộm buộc cánh tiên, mỏ ngậm bông hồng, đĩa xôi gấc để nguyên hạt đen nhánh điểm xuyết trên nền xôi nếp đỏ mọng; hoa quả tùy hoàn cảnh nhưng nhất thiết phải có chuối, bưởi và đu đủ xanh, thể hiện sự sum họp, đủ đầy.
Khói hương quyện trong làn mưa xuân mong mỏng. Bố đi nhanh ra đường rồi quay về nhà cùng lời chúc rộn ràng từ cổng. Năm nào bố cũng là người xông nhà. Bố chúc bà, chúc mẹ, lần lượt từng người trong nhà. Sau những lời chúc tụng thiết thực nhất với mỗi người, cả nhà quây quanh đĩa xôi gấc, ai cũng được một miếng lấy lộc.
Sáng mùng một, dù trời lạnh thế nào anh em chúng tôi cũng phải diện quần áo mới. Ngày đó nghèo, có quần áo mới, cho dù chỉ là chiếc áo sơ mi và quần lụa mỏng cũng là nhất nhì Thị trấn rồi. Nên, rét cũng phải mặc, mà đã mặc thì phải diện ra ngoài. Thế nên, rét ngọt đến 3-4 độ cũng chỉ sơ mi-quần lụa ra đường. Mặt xám vì rét, môi run lên.. nhưng trong lòng thì ấm nóng với thôi thúc phải ra đường để chúng bạn thấy mình có áo mới. Ra đường chưa đủ, chúng tôi đi bộ mấy ki lô mét xuống xã gần đó để chúc tết các cô, bác đằng nội, cũng với mục đích khoe quần áo mới. Ở quê, ngày Mùng Một Tết được mặc định dành riêng cho gia đình, họ hàng nên cứ phải đi lần lượt các nhà cho hết. Mùng 2, cũng tấm áo quần mỏng manh ấy, cổ bắt đầu húng hắng ho do lạnh, chúng tôi ra các bãi trống quanh thị trấn tham gia các trò chơi đẩy gậy, đập niêu, đánh đu. Mặc gió, mặc mưa phùn, tinh thần xuân phơi phới trong lòng, chúng tôi cong mình trên đu. Mọi người càng hưởng ứng, tiếng hò reo càng to, chúng tôi càng cố dướn cho chiếc đu lên cao. Mùng 3, chiếc nồi đựng thịt đặt trong chiếc quang treo trong bếp đã vơi quá nửa. Mẹ tôi bảo, khi nào ăn đến mỡ nước thì hết Tết, thường thì vào ngày Mùng 5.
Thấm thoát vậy mà đã mấy chục năm trôi qua, Thị trấn của tôi giờ thành Thị xã, nhà cửa san sát. Bảng tin ở ngã tư đã bị phá bỏ từ lâu. Thời đại 4.0, công nghệ vào tận giường ngủ. Ba mươi Tết thay vì ra bảng tin nghe sân khấu truyền thanh, quay quần quanh nỗi bánh chưng… mọi người ngược xuôi du lịch trong, ngoài nước; hoặc có những thú vui hiện đại khác. Để rồi lại tiếc những khoảnh khắc khó khăn về vật chất nhưng ấm áp tình người của Tết cũ. Cũng vì thế, mà nhiều nơi người ta đang cố phục dựng không khí Tết xưa để những ai nặng lòng với kỷ niệm có những khoảnh khắc “đi về trong yêu dấu”.
Nhà văn Chu Thu Hằng