Về với Lam Kinh (Thanh Hoá), vùng đất phát tích của vương triều Hậu Lê, du khách không chỉ được tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và những dấu tích lịch sử gắn với Anh hùng dân tộc Lê Lợi, mà còn có dịp cảm nhận một không gian văn hóa đặc biệt.

Ở đó, tiếng trống hội, tiếng chiêng, nhạc lễ cùng những điệu múa dân gian hòa quyện, tạo nên âm hưởng riêng của một lễ hội có lịch sử lâu đời.
Lễ hội Lam Kinh được tổ chức hằng năm vào dịp tháng 8 âm lịch, gắn với ngày mất của vua Lê Thái Tổ (22.8 âm lịch). Đây là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao của vua Lê Thái Tổ, các vua Lê, tướng sĩ và nhân dân đã góp sức làm nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, mở ra một thời kỳ phát triển mới trong lịch sử dân tộc.
Nhưng vượt lên ý nghĩa tưởng niệm lịch sử, lễ hội còn lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Những nghi thức tế lễ, rước kiệu, nhạc lễ và trò diễn dân gian chính là những thành tố làm nên sức sống của di sản.
Những thanh âm kể chuyện hào khí Lam Sơn
Trong không gian linh thiêng của Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh, phần lễ luôn được tổ chức trang nghiêm với các nghi thức rước kiệu vua Lê Thái Tổ, Trung Túc Vương Lê Lai từ đền thờ về sân Rồng, dâng hương tưởng niệm và tế lễ.
Mỗi nghi thức đều có trình tự, quy cách riêng, thể hiện sự tôn kính đối với các bậc tiền nhân. Trong đó, âm nhạc giữ vai trò quan trọng, góp phần tạo nên không khí trang nghiêm và tính biểu đạt của nghi lễ.
Tiếng trống, tiếng chiêng vang lên theo từng nhịp rước; nhạc lễ được cử hành trong các nghi thức tế tự, hòa cùng lời chúc văn và những động tác hành lễ. Tất cả tạo nên một chỉnh thể văn hóa, nơi lịch sử được tái hiện không chỉ qua lời kể mà còn bằng âm thanh và diễn xướng.

Theo tư liệu về Lễ hội Lam Kinh, các nghi thức truyền thống còn gắn với những điệu nhạc lễ như “Bình Ngô phá trận”, “Chư hầu lai triều”, cùng các điệu múa võ, nhạc văn. Đây là những chất liệu mang dấu ấn lịch sử, phản ánh niềm tự hào về chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn và khát vọng thái bình của dân tộc.
Đáng chú ý, điệu múa “Bình Ngô” còn được nhắc đến trong sử liệu thời Lê. Đại Việt sử ký toàn thư chép việc vua Lê Thái Tông sáng tác điệu vũ Bình Ngô, được diễn xướng trong các buổi yến tiệc, tế lễ.
Những tư liệu này cho thấy âm nhạc và múa không chỉ là hoạt động giải trí mà từng giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, nghi lễ của triều đình.
Trải qua những biến thiên lịch sử, một số nghi thức và hình thức diễn xướng được phục hồi, duy trì trong các kỳ lễ hội.
Sự kết hợp giữa yếu tố cung đình và văn hóa dân gian tạo nên nét riêng của Lễ hội Lam Kinh, vừa thể hiện sự trang trọng của một không gian tưởng niệm vương triều, vừa gần gũi với đời sống cộng đồng.
Nếu nhạc lễ tạo nên âm hưởng trang nghiêm thì các trò diễn dân gian lại đem đến sức sống sôi nổi cho phần hội. Đây cũng là nơi những di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Thanh Hóa có cơ hội được giới thiệu rộng rãi.
Trong số đó, Trò Xuân Phả là một điểm nhấn đáng chú ý. Được lưu truyền tại làng Xuân Phả, xã Thọ Xuân, loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian này gồm 5 trò diễn: Hoa Lang, Chiêm Thành, Ai Lao, Ngô Quốc và Tú Huần.
Mỗi trò diễn có hệ thống nhân vật, trang phục, đạo cụ và động tác múa riêng. Tiếng trống, thanh la, mõ, xênh tre hòa cùng lời ca và nhịp điệu của các nghệ nhân tạo nên những màn trình diễn vừa mạnh mẽ, phóng khoáng, vừa uyển chuyển, giàu tính biểu tượng.
Điểm đặc sắc của Trò Xuân Phả là sự kết hợp giữa nghệ thuật múa, âm nhạc và yếu tố diễn xướng dân gian. Năm trò diễn được xem như những câu chuyện về các đoàn sứ giả, mang theo sắc thái văn hóa khác nhau, tạo nên bức tranh nghệ thuật đa dạng.
Không chỉ là tiết mục biểu diễn phục vụ du khách, Trò Xuân Phả còn gắn với không gian tín ngưỡng và đời sống văn hóa của cộng đồng. Năm 2016, di sản này được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Bên cạnh Trò Xuân Phả, những loại hình như Ngũ trò Viên Khê, trò diễn Pôồn Pôông, hát chèo và các hình thức dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc cũng góp phần làm phong phú không gian lễ hội.
Mỗi loại hình mang một sắc thái âm nhạc riêng, phản ánh đời sống tinh thần, phong tục và quan niệm thẩm mỹ của từng cộng đồng.
Giữ mạch nguồn di sản từ cộng đồng
Điều làm nên giá trị lâu bền của Lễ hội Lam Kinh không chỉ nằm ở quy mô tổ chức hay sức hấp dẫn đối với du khách, mà còn ở khả năng duy trì những nghi thức, trò diễn và thanh âm truyền thống trong đời sống cộng đồng.
Từ tiếng trống hội đến nhạc lễ, từ điệu múa cổ đến những làn điệu dân gian, mỗi yếu tố đều gắn với một không gian thực hành và những người nắm giữ tri thức văn hóa.
Nếu thiếu nghệ nhân, thiếu người kế tục và môi trường biểu diễn thường xuyên, nhiều giá trị có nguy cơ chỉ còn tồn tại trong những tư liệu hoặc chương trình tái hiện.

Thực tế với Trò Xuân Phả cho thấy, việc bảo tồn đòi hỏi sự tham gia trực tiếp của cộng đồng.
Người học không chỉ phải thuộc động tác mà còn cần hiểu tích trò, nắm nhịp điệu, sử dụng nhạc cụ, đạo cụ và phối hợp với các thành viên trong từng màn diễn.
Những kiến thức này phần lớn được truyền dạy qua thực hành, từ nghệ nhân có kinh nghiệm đến thế hệ kế cận.
Trong chuyên đề “Thanh âm Việt Nam” đăng trên Báo Văn Hóa, câu chuyện Trò Xuân Phả được khai thác từ chính những tiếng trống, nhịp xênh tre và 5 điệu múa cổ.
Qua đó cho thấy, bảo tồn thanh âm di sản không thể tách rời việc gìn giữ người thực hành và không gian văn hóa đã sản sinh ra chúng.
Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với chương trình “Thanh âm Việt Nam. Giai điệu cuộc sống” do Bộ VHTTDL phát động.
Chương trình hướng tới ghi nhận, lưu giữ và lan tỏa những thanh âm gắn với đời sống, bản sắc văn hóa các vùng miền; từng bước xây dựng Ngân hàng Thanh âm Việt Nam và Bản đồ âm nhạc Việt Nam.
Với Lễ hội Lam Kinh, nguồn tư liệu ấy rất phong phú. Đó có thể là tiếng trống trong nghi thức rước kiệu, âm thanh nhạc lễ tại sân Rồng, tiếng thanh la và xênh tre trong Trò Xuân Phả, tiếng cồng chiêng trong các hoạt động văn nghệ dân gian hay những làn điệu dân ca được nghệ nhân thực hành tại lễ hội.
Việc ghi âm, ghi hình cần gắn với chú thích đầy đủ về nguồn gốc, hoàn cảnh thực hành, người biểu diễn và ý nghĩa văn hóa. Những tư liệu được lưu trữ bài bản không chỉ phục vụ công tác quảng bá mà còn có giá trị đối với nghiên cứu, giáo dục và trao truyền di sản.


