Làng biển xứ Quảng trong không gian du lịch mới:
Kỳ cuối- Nghề biển tìm chỗ đứng trong không gian du lịch mới
VHO - Từ những lò hấp cá ở Tam Tiến, Bình Minh đến nghề đan thúng chai Hà Bình, xã Thăng An, những vùng biển của Đà Nẵng lưu giữ nhiều kỹ năng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Trong không gian du lịch ven biển, những giá trị ấy mở ra cơ hội trải nghiệm, nhưng phải giữ sinh kế và bản sắc địa phương.
Sau chuyến biển, nghề vẫn tiếp nối
Những ngày đầu tháng 10, Đà Nẵng trở gió, biển động, cấp độ rủi ro thiên tai do gió mạnh trên biển ở cấp 2. Với người làng chài, những con số trong các bản tin dự báo thời tiết ấy là quyết định để một chiếc thúng chai có được đẩy xuống nước, một chuyến tàu có rời bến, sáng hôm sau có ra chợ cá hay không.

Mùa mưa bão vì thế luôn là “khoảng lặng” đầy khó khăn ở những làng biển. Khi biển yên, làng thức từ nửa đêm để đón cá. Khi biển động, tàu nằm bờ nhiều hơn, nhịp mua bán chậm lại, ngư dân quẩn quanh trên bờ với những việc như rút chì, vá lưới, dặm thúng, kiểm tra máy, sửa mái chèo, chuẩn bị chờ ngày sóng yên gió lặng để bắt đầu chuyến biển mới.
Những nghề trên bờ duy trì sinh kế, kỹ năng và tri thức của cộng đồng trong những ngày không thể ra khơi. Đây cũng là nội dung có thể giới thiệu với du khách, thay vì chỉ tập trung vào bình minh, bãi biển và hải sản tươi.

Ở làng biển Bình Minh, nay thuộc xã Thăng An, thành phố Đà Nẵng, hấp cá là nghề gắn trực tiếp với hoạt động đánh bắt. Khoảng cuối tháng 3 đến tháng 8, khi nguồn cá cơm, cá nục và các loại hải sản phù hợp về bến, một phần được bán tươi; phần còn lại đưa vào sơ chế, hấp và phơi.
Du khách không chỉ đến làng biển, đến các lò hấp để xem, chụp ảnh, mà còn có thể tìm hiểu, trải nghiệm về tri thức nghề, kỹ thuật giữ độ tươi, xử lý mẻ cá đúng thời điểm và tổ chức lao động từ bãi biển đến cơ sở chế biến.

Chị Đào Thị Bé gắn với nghề gánh cá và phụ hấp cá ở bến cá Bình Minh, xã Thăng An đã hơn chục năm nay kể rằng một ngày của chị và nhiều chị em khác ở vùng biển này gần như xoay trọn quanh vụ cá. Cá vừa cập bến được gánh lên, rửa qua hai lần nước, lựa rồi xếp vào vỉ; có mẻ các vỉ chồng khoảng 20 lớp trước khi đưa vào lò.
Khi cá ra lò lại tiếp tục mang phơi, canh nắng, thu cá. Công việc không phức tạp nhưng người làm phải chịu được nắng, khói và hơi nóng, giữ nhịp rất đều từ bến tới lò để cá không mất độ tươi.
Anh Phạm Văn Tiến, chủ một lò hấp cá ở thôn Hà Bình, xã Thăng An cho biết tùy loại cá, thời gian hấp thường chỉ khoảng 3–5 phút đối với cá nhỏ như cá cơm) và 15-20 phút với cá lớn, mực. Khoảng thời gian ngắn ấy lại đòi hỏi người canh lò tập trung liên tục: nước phải đủ để mẻ chín đều, cá vừa tới phải được đưa ra kịp lúc, nếu quá lửa dễ bở và giảm độ thơm.
Sau hấp và phơi, khoảng 3–4kg cá tươi mới cho khoảng 1kg cá khô. Chuỗi việc được người làng biển hay đùa là “quy trình khép kín” từ biển vào bờ, sơ chế, vào lò và tiêu thụ.

Làng nghề hấp cá xã Bình Minh trước đây (huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cũ, nay là xã Thăng An, thành phố Đà Nẵng) có hàng chục lò, thu hút hàng trăm lao động, mỗi ngày có thể cung ứng cho thị trường hàng tấn cá khô, tuy nhiên, nguồn lao động thời vụ này thường không cố định, biến động theo thị trường và mùa cá.
Sau sáp nhập, quy mô kinh tế thủy sản của vùng vẫn cho thấy nền nghề còn rất lớn. Hiện tại, toàn xã có 140 tàu thuyền hoạt động trên biển, với tổng sản lượng khai thác hằng năm đạt hơn 15.000 tấn. Đến nửa cuối tháng 9.2026, xã Thăng An ghi nhận tổng sản lượng thủy sản khoảng 20.880 tấn, trong đó khai thác trên biển đạt 18.430 tấn.
Từ chiếc thúng chai đến câu chuyện giữ nghề
Ở thôn Hà Bình, xã Thăng An, một câu chuyện khác của nghề biển hiện lên qua những chiếc thúng chai với những kỹ thuật sản xuất như lựa tre, chẻ nan, đan khuôn, xử lý bề mặt và chống thấm gắn trực tiếp với an toàn người đi biển.
Nghề đan thuyền thúng ban đầu xuất phát từ nhu cầu ngư dân tự làm phương tiện hành nghề. Những tháng khoảng tháng 9 âm lịch đến giáp Tết, khi biển thường động và tàu thuyền nằm bờ, cũng là lúc làng rộn việc đan thúng, vá lưới, chuẩn bị cho mùa biển mới. Tại thôn hiện còn hơn 10 hộ chuyên đan thúng cung cấp cho tàu đánh bắt xa bờ ở ngư trường.

Ông Lê Sa, một ngư dân ở thôn Hà Bình, xã Thăng An cho biết, công đoạn lựa tre, vót nan, phơi khô, lồng vành, trát và chống thấm không chỉ quyết định hình dáng chiếc thúng mà còn liên quan đến độ bền khi sử dụng ngoài sóng.
Theo kinh nghiệm của nhiều năm theo tàu đánh bắt ngoài khơi xa, ông biết nan chưa đủ khô gặp nước dễ giãn nở; bề mặt chống thấm làm sơ sài thì thúng nhanh ngấm, nhanh mục. Những chi tiết tưởng chừng rất nhỏ ấy nhưng liên quan trực tiếp đến độ bền của phương tiện khi người dùng ở ngoài sóng.
Sự xuất hiện của du lịch lại mở thêm một lối ra cho nghề. Ngoài đơn hàng của ngư dân, người làm thúng Hà Bình từng nhận sản phẩm cho các khu du lịch và điểm cộng đồng ở các vùng lân cận, một số tour đưa khách đến xem trình diễn đan thúng.
Tuy nhiên, giá trị của nghề không bắt đầu từ chiếc thúng trang trí hay trình diễn cho du khách mà bắt đầu từ kiến thức về tre, sóng, nước, độ chịu lực và cảm giác an tâm của người đi biển. Nếu du lịch khai thác được lớp tri thức ấy thay vì chỉ biến thúng thành vật trang trí, biểu diễn lắc thúng chai, tạo cảnh quan chụp ảnh, nghề mới có cơ hội được hiểu đúng và truyền tiếp.
Từ di sản cộng đồng đến trải nghiệm du lịch
Khác với trải nghiệm vui chơi có thể tổ chức theo yêu cầu, bả trạo thuộc diễn xướng dân gian đặc sắc trong lễ hội cầu ngư, gắn với nghi lễ do cộng đồng chủ trì, phong phú về tư tưởng và nghệ thuật do các thế hệ tiền nhân sáng tạo, lưu truyền từ nhiều đời bằng hình thức truyền miệng.

Đầu tháng 3 vừa qua, xã Thăng An cũng tổ chức lễ hội Cầu ngư và ra quân đánh bắt hải sản đầu năm tại bãi biển Bình Minh, thôn Hà Bình. Bên cạnh nghi thức cộng đồng, phần hát bả trạo là phần hội chính yếu nhất và có sức hấp dẫn, thu hút nhiều người xem trong lễ hội cầu ngư của cư dân miền biển. Bên cạnh đó còn có hoạt động thi doáy thúng, thi đấu bóng đá và kéo co.

Tại Cửa Khe, thôn Duy Hà, xã Thăng An (trước đây thuộc xã Bình Dương, huyện Thăng Bình), các kỳ lễ hội văn hóa – thể thao miền biển luôn có phần lễ cầu ngư, hát bả trạo cùng nhiều hoạt động giao lưu cộng đồng. Nếu phát triển sản phẩm du lịch, có thể giới thiệu câu chuyện làng nước mắm, nghề biển, ẩm thực và những hoạt động cộng đồng theo lịch tổ chức thực tế, thay vì trình diễn nghi thức ngoài bối cảnh của nó.
Lễ hội rước Cộ Bà Chợ Được- di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được ghi danh năm 2014 cũng được duy trì và tổ chức định kỳ tại thôn Phước Ấm, xã Thăng An hiện nay. Lễ hội gắn với nghi thức nghinh sắc Bà, rước Cộ cùng các hoạt động chợ quê, bài chòi, đua thuyền và những chương trình nghệ thuật.

Mô hình du lịch cộng đồng cũng đang được chú trọng đầu tư tại làng Cửa Khe, xã Thăng An- nơi vốn nổi tiếng với nghề làm nước mắm truyền thống, cảnh quan biển còn lưu giữ vẻ đẹp tự nhiên, trong lành. Hiện Hợp tác xã du lịch cộng đồng Làng nghề nước mắm Cửa Khe cùng một số mô hình khác đang tham gia đưa, đón khách trải nghiệm.
Xã Thăng An cũng đang có những đề xuất về việc chỉnh trang chợ, không gian lễ hội, làng nghề và khu dịch vụ bãi tắm để phát triển du lịch cộng đồng.
Giá trị du lịch làng biển cần được nhìn từ lợi ích thực tế của người làm nghề và khả năng duy trì không gian thực hành. Trong định hướng phát triển du lịch ven biển vùng Đông Đà Nẵng, bên cạnh nghỉ dưỡng biển, những trải nghiệm từ nghề truyền thống, sản vật và lễ hội có thể tạo bản sắc bổ trợ, nhưng không nhất thiết phải ghép các điểm đến thành một tuyến- tour.

RSS