Không phải ngẫu nhiên cả 2 hồ sơ đề cử của Việt Nam đều được 100% phiếu đồng thuận của hội đồng. Di sản tư liệu “Văn bia Phố Hiến” gồm 41 văn bia chữ Hán và chữ Nôm, có niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, hiện lưu giữ tại các di tích thuộc Di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên.

Những văn bia này được cộng đồng gìn giữ nguyên trạng qua nhiều thế kỷ, phản ánh lịch sử phát triển của Phố Hiến, một thương cảng quốc tế từng giữ vị trí quan trọng trong hoạt động giao thương tại khu vực châu Á. Những tấm văn bia cổ tại Phố Hiến lưu giữ tư liệu về lịch sử giao thương, văn hóa và đời sống tín ngưỡng của thương cảng quốc tế một thời.
Hình thành từ thế kỷ XVI và đạt thời kỳ cực thịnh vào thế kỷ XVII, Phố Hiến từng là trung tâm văn hóa, thương mại lớn, thu hút thương nhân đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh. Không chỉ ghi lại hoạt động giao thương, các văn bia còn phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, sự hòa hợp giữa các tôn giáo, tín ngưỡng trong cộng đồng cư dân người Việt và người nước ngoài.
Đáng chú ý, 9 tấm bia tại Văn Miếu Xích Đằng thể hiện truyền thống hiếu học của người Hưng Yên. Một số văn bia còn ghi nhận sự đóng góp của phụ nữ trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng tại Phố Hiến. Đây là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ nghiên cứu lịch sử đô thị, ngoại giao văn hóa, kinh tế và giao lưu hàng hải trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Trong khi đó, Di sản tư liệu “Ma nhai trên núi Non Nước” gồm 43 bản văn khắc trực tiếp trên vách đá tại Di tích lịch sử và danh thắng quốc gia đặc biệt núi Non Nước, tỉnh Ninh Bình. Các bản khắc có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX, sử dụng chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Nội dung gồm nhiều thể loại như ngự bút, bia ký, thơ văn, đề từ do các vị vua, quan lại, danh nhân, nhà văn hóa và nhà thơ lưu lại.
Những tác phẩm này được các nghệ nhân khắc trên đá bằng kỹ thuật điêu khắc truyền thống, mang giá trị độc bản, không thể thay thế. Nội dung các bản ma nhai phản ánh lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đồng thời cung cấp tư liệu về sự giao lưu và tiếp biến văn hóa ở Đông Á, đặc biệt là hiện tượng Tam giáo đồng nguyên giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo, kết hợp với tín ngưỡng bản địa Việt Nam.
Đáng chú ý, một số bản khắc ghi nhận sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động xã hội, tôn giáo qua nhiều giai đoạn lịch sử, cho thấy những biểu hiện của bình đẳng giới tại Việt Nam từ thời trung đại.
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) và các chuyên gia quốc tế thường xuyên đánh giá Việt Nam là một “câu chuyện thành công” và là hình mẫu điển hình trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn liền với phát triển bền vững.
Với việc hai di sản mới được ghi danh, Việt Nam đã sở hữu bộ sưu tập di sản đáng giá gồm 13 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh, trong đó có 4 di sản tư liệu thuộc Danh mục thế giới và 9 di sản tư liệu thuộc Danh mục khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Văn hóa nước nhà đang đơm hoa, kết trái. Kết quả này đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó đặt mục tiêu phấn đấu có thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh đến năm 2030 và 10 di sản đến năm 2045.
