
Hội thảo thu hút sự tham gia của đông đảo nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên và nghệ sĩ trong nước, quốc tế. Đây là diễn đàn trao đổi về những yêu cầu mới đối với giáo dục nghệ thuật, từ đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, ứng dụng công nghệ số, AI đến bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh chuyển đổi số.
Xây dựng hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật trong môi trường số
Chủ đề hội thảo bám sát tinh thần các nghị quyết của Bộ Chính trị, gồm Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Đào Đăng Phượng, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương nhấn mạnh, công nghệ số đã tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo nghệ thuật. Các công cụ AI tạo sinh có thể tạo hình ảnh, phối khí, viết lời bài hát chỉ trong vài giây. Sinh viên đã sử dụng những công cụ này trong bài tập, đồ án, đặt ra những vấn đề mới về đánh giá năng lực sáng tạo, quy chế học thuật và quyền sở hữu trí tuệ.
Theo PGS.TS Đào Đăng Phượng, việc xác định tỷ lệ đóng góp sáng tạo thực sự của người học trong một tác phẩm có sự hỗ trợ của AI, cũng như trách nhiệm tác giả đối với sản phẩm đó, đang trở thành những vấn đề mà các cơ sở giáo dục nghệ thuật cần sớm giải quyết.
Bên cạnh đó, học liệu, bài thực hành, sản phẩm sáng tác và đồ án tốt nghiệp ngày càng được lưu trữ dưới dạng số, đòi hỏi các trường phải đổi mới phương thức quản lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu.
Từ thực tiễn này, Ban Tổ chức lựa chọn khái niệm “hệ sinh thái” để nhấn mạnh rằng không một cơ sở đào tạo riêng lẻ nào có thể tự mình giải quyết toàn bộ những thách thức đặt ra.
Cần có sự kết nối giữa trường đại học, giảng viên, người học, nghệ sĩ, nghệ nhân, cơ quan quản lý nhà nước, nhà hát, bảo tàng, doanh nghiệp văn hóa và công nghệ, cộng đồng nắm giữ di sản cùng các đối tác quốc tế.
Một hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiệu quả không chỉ dừng ở việc đầu tư phần mềm, xây dựng xưởng thực hành mà còn phải hình thành các kho học liệu số, cơ sở dữ liệu di sản đáng tin cậy, quy tắc sử dụng AI và những kênh giới thiệu sản phẩm sáng tạo của sinh viên.

Trong đó, học liệu có thể được chia sẻ giữa các cơ sở đào tạo; tri thức của nghệ nhân được ghi chép, lưu trữ và đưa vào giảng dạy; sản phẩm của người học có cơ hội tiếp cận công chúng và thị trường; kết quả nghiên cứu được phản hồi trở lại chương trình đào tạo.
Đây cũng là hướng tiếp cận nhằm gắn kết chặt chẽ hơn giữa giáo dục nghệ thuật với thực tiễn sáng tạo và phát triển công nghiệp văn hóa.
Một trong những vấn đề được quan tâm tại hội thảo là làm thế nào để người học làm chủ công nghệ nhưng vẫn giữ được nền tảng văn hóa và năng lực cảm thụ thẩm mỹ.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, cần xây dựng những thế hệ trẻ biết sử dụng công nghệ nhưng không để công nghệ chi phối đời sống tinh thần; biết hội nhập với thế giới nhưng không đánh mất cội nguồn, đồng thời có năng lực chuyên môn và biết rung động trước cái đẹp.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, giáo dục nghệ thuật không nên bị xem là nội dung bổ trợ trong chương trình giáo dục mà cần được nhìn nhận như một con đường thiết yếu hướng tới sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Trong kỷ nguyên số, một làn điệu truyền thống có thể đến gần hơn với giới trẻ qua điện thoại thông minh; một lớp học ở vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận nguồn học liệu nghệ thuật phong phú.
Tuy nhiên, mỗi ngày, trẻ em cũng tiếp xúc với vô số hình ảnh, âm thanh và những hệ giá trị khác nhau. Nếu thiếu nền tảng cảm thụ thẩm mỹ, các em có thể bị thu hút bởi những gì ồn ào, giật gân thay vì nhận ra vẻ đẹp đích thực. Nếu thiếu gốc rễ văn hóa, các em có thể dần xa rời bản sắc của chính mình.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh, điều quan trọng không chỉ là đưa công nghệ vào lớp học nghệ thuật mà còn phải đưa các giá trị nhân văn vào cách thức sử dụng công nghệ.
AI có thể mở rộng phương thức biểu đạt, hỗ trợ quá trình sáng tạo nhưng không thể thay thế những rung động của con người hay vai trò của người thầy trong việc truyền trao tình yêu quê hương, đất nước và văn hóa dân tộc.
Từ đó, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đề xuất cần thay đổi nhận thức và tăng cường đầu tư cho giáo dục nghệ thuật; xây dựng hệ sinh thái kết nối nhà trường với bảo tàng, nhà hát, không gian sáng tạo, nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nghiệp văn hóa và doanh nghiệp công nghệ; đặt đội ngũ giáo viên vào vị trí trung tâm của đổi mới; đồng thời đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên nền tảng giữ gìn bản sắc dân tộc.
Từ đổi mới giảng dạy đến phát huy giá trị di sản
Những yêu cầu đổi mới giáo dục nghệ thuật được thể hiện khá rõ qua các tham luận gửi đến hội thảo. Ban Tổ chức đã tiếp nhận hơn 170 bài viết của các nhà khoa học, nhà giáo dục và nghệ sĩ trong nước, quốc tế.
Qua quá trình phản biện, 145 bài được lựa chọn đăng trong kỷ yếu, tập trung vào ba lĩnh vực: văn hóa và nghệ thuật, âm nhạc, mỹ thuật.

Ở lĩnh vực âm nhạc, nhiều nghiên cứu đề cập việc sử dụng học liệu số, phản hồi qua video trong giảng dạy thanh nhạc, tổ chức dạy học kết hợp đối với nhạc cụ phím và xây dựng môi trường học tập số cho sinh viên sư phạm âm nhạc.
Một số nghiên cứu có số liệu thực nghiệm, cung cấp những kinh nghiệm cụ thể để các cơ sở đào tạo tham khảo.
Trong lĩnh vực mỹ thuật, các tham luận tập trung vào ứng dụng AI trong đồ án tốt nghiệp, khai thác bảo tàng số phục vụ giảng dạy kiến thức mỹ thuật và đổi mới đào tạo thiết kế ứng dụng theo yêu cầu thực tiễn nghề nghiệp.
Đáng chú ý, lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật dành nhiều sự quan tâm đến việc bảo tồn, số hóa và đưa di sản vào hoạt động giáo dục.
Các loại hình được nghiên cứu khá đa dạng, từ múa dân gian của các dân tộc thiểu số, nghệ thuật Xòe Thái, dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ví, Giặm Hà Tĩnh đến nghệ thuật Chèo, Hát bội, Cải lương; nghề chạm khắc đá và kỹ thuật vẽ hoa văn bằng sáp ong trên vải của người Mông.
Những nghiên cứu này không chỉ góp phần lưu giữ tư liệu mà còn gợi mở khả năng khai thác chất liệu di sản trong giảng dạy và phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Bên cạnh đó, vấn đề bản quyền, đạo đức và tính minh bạch khi sử dụng AI trong sáng tạo, đào tạo nghệ thuật cũng được một số tác giả đặt ra, cho thấy yêu cầu xây dựng những nguyên tắc phù hợp với thực tiễn mới.
Ghi nhận kết quả hợp tác quốc tế của nhà trường, PGS.TS Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho biết, năm 2025, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương triển khai 22 hoạt động hợp tác với đối tác thuộc 10 quốc gia, gần gấp 3 lần năm trước và ký mới 6 văn bản hợp tác.
Nhà trường cũng tham gia dự án VIETMUS thuộc chương trình Erasmus+ của Liên minh châu Âu, hợp tác triển khai các chương trình chứng chỉ âm nhạc theo chuẩn quốc tế và mở rộng trao đổi sinh viên với các cơ sở đào tạo nghệ thuật nước ngoài.
Do đó, PGS.TS Nguyễn Thu Thủy đề nghị nhà trường tiếp tục coi hợp tác quốc tế là động lực đổi mới đào tạo, nghiên cứu; chuyển các quan hệ đối tác thành những sản phẩm học thuật chung: đề tài nghiên cứu hợp tác, công bố khoa học có đồng tác giả quốc tế, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, chương trình đào tạo liên kết và hoạt động trao đổi giảng viên, sinh viên hai chiều.
Với một phiên toàn thể và ba phiên chuyên đề song song, hội thảo là dịp để các nhà khoa học trong nước trao đổi kinh nghiệm, tiếp cận những mô hình giáo dục nghệ thuật quốc tế từ Malaysia, Trung Quốc và Hàn Quốc.
Những vấn đề được đặt ra tại hội thảo cho thấy, chuyển đổi số trong giáo dục nghệ thuật không đơn thuần là ứng dụng công nghệ vào giảng dạy mà đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ về tư duy, chương trình, phương pháp, đội ngũ và cơ chế phối hợp.

Trong hành trình đó, công nghệ cần được sử dụng như công cụ mở rộng không gian sáng tạo, còn bản sắc văn hóa và những giá trị nhân văn phải là nền tảng định hướng. Đây cũng là cơ sở để giáo dục nghệ thuật Việt Nam phát triển trong giai đoạn mới, vừa thích ứng với xu thế thời đại, vừa góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và khẳng định bản sắc con người Việt Nam.
