Hội thi hát quan họ đầu xuân  & chuyện bây giờ mới kể (Thứ Tư 14/02/2018 | 01:00 GMT+7)

VH- Quan họ, thứ đặc sản văn hóa âm nhạc đặc biệt thể hiện cốt cách, tâm hồn người Kinh Bắc tưởng chừng như có sức lan tỏa không bao giờ ngừng trong đời sống tinh thần của người dân hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, vậy nhưng cũng đã có những giai đoạn ở nơi đây không mấy ai còn hứng thú. Câu chuyện của những năm cuối thập niên 1980 và đầu 1990 không mấy ai còn nhớ nhưng nó đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc “chấn hưng” lại dòng nghệ thuật này ở quê hương Kinh Bắc.

 “Cứu” quan họ!

Giai đoạn đổi mới, cuối thập niên 1980, chính sách “mở cửa” như một làn gió mới làm thay đổi đời sống xã hội cả nước. Trong khi kinh tế đang chuyển mình đi lên, thì văn hóa đang đà bị lãng quên ở vùng quê giàu truyền thống văn hóa Kinh Bắc. Khi ấy, các buổi biểu diễn của Đoàn Dân ca quan họ Bắc Ninh rất ít người xem, thấy quan họ đang có chiều hướng đi xuống, lại có sự đồng lòng của hai ông Nguyễn Đăng Khoa (giám đốc), ông Dương Đình Bưu (phó giám đốc), Sở Văn hóa Hà Bắc cũ đã đưa ra chủ trương khôi phục lại hát quan họ, lấy trọng tâm là đào tạo, vì vậy tập trung vào việc khôi phục hội thi hát quan họ. Sở giao triển khai nhiệm vụ quan trọng này cho Trung tâm Văn hóa tỉnh Hà Bắc, với ba cán bộ là ông Ngô Văn Trụ giám đốc, ông Vũ Hồng Bàng, cán bộ chuyên môn và ông Nguyễn Hữu Si, trưởng phòng văn nghệ. Bên cạnh đó còn có sự phối hợp của bộ phận nghiên cứu lúc ấy có nhà nghiên cứu văn hóa Kinh Bắc Trần Linh Quý, và nhà nghiên cứu quan họ Hồng Thao đã về hưu nhưng rất nhiệt tình tham gia. Đó là năm 1990.

Ông Hữu Si cho biết: “Đầu tiên chúng tôi đi xuống các làng quan họ để tìm các nghệ nhân. Từ làng Chọi, làng Diềm Xá của Yên Phong đến Sim Bịu, Lim của Tiên Sơn, rồi một số làng để gặp các cụ nghệ nhân, trong đó có cụ Son, cụ Sôi, cụ Thành... Người viết bài còn nhớ, hồi tháng 12.2016 khi cùng ông Ngô Văn Trụ làm khách mời cho chương trình Tết của Đài PT-TH tỉnh Bắc Giang, trò chuyện với cùng chủ đề này, ông cho biết: “Cái khó khăn nhất lúc ấy là những nghệ nhân có uy tín thì đã ngoài 90, sức khỏe đã yếu, khi biết chủ trương của Nhà nước các cụ rất thích, vì các cụ cũng mong khôi phục quan họ nhưng mà lực bất tòng tâm, không hát được nữa”. Các ông đã tìm đến nhà từng nghệ nhân để gặp, thu thập những tư liệu và thu lại những bài cổ để về nghiên cứu. Đồng thời, họ cũng không quên nhờ các nghệ nhân dạy lại các con em trong làng.

Không chỉ các cụ nghệ nhân phấn khởi, ngay cả nhân dân ở các làng ngày xưa có hát cũng rất hào hứng, bởi vì như thế, người ta có cơ hội được đi hát. “Tôi còn nhớ hình ảnh cụ Thành ở làng Diềm, cụ yêu quan họ tới mức nếu nói đến hát thì cụ có thể nói suốt ngày suốt đêm. Mà ai thích học thì cụ say sưa lắm, cụ vừa nắn vừa dậy không cần nghỉ ngơi”, ông Hữu Si nhớ lại. Theo ông Si, hầu như các cụ nghệ nhân quan họ đều như thế, rất muốn truyền lại cho thế hệ sau nhưng có một tiêu chí quan trọng để các cụ truyền dạy là phải có những người say mê, kiên trì. Có lẽ bởi, bên cạnh những quy định nghiêm ngặt về văn hóa ứng xử, giao tiếp... thì quan họ còn là nghệ thuật ca hát có những yêu cầu khá khắt khe buộc người chơi phải tuân theo. Chẳng hạn trong cách hát, bên cạnh giọng hát phải vang rền nền nảy theo cách của người quan họ thì còn phải đề cao cái tôi trong tính tập thể. Quan họ không hát đơn mà hát đôi, ở đó có người hát dẫn, có người hát luồn. Khi hát đối thì có đối chỉnh, trong đó có chỉnh nhạc và chỉnh lời. Chính yếu tố này đã khuyến khích sự sáng tạo của những người chơi quan họ, góp phần cho các làn điệu, bài quan họ ngày một dầy lên. “Lúc đó có rất nhiều nghệ nhân vẫn còn tham gia sáng tạo. Cụ Sôi là một trong những người sáng tạo ra rất nhiều bài quan họ mới”, ông Hữu Si cho biết. Bên cạnh đó, nếu ai muốn chơi được quan họ thì phải biết được ít nhất 4 giọng lề lối. Các nghệ nhân quan niệm hát được lề lối thì mới là người biết chơi quan họ. “Thế nên các cụ có những bài lề lối rất khó, khi mà hát được các giọng lề lối thì vào các giọng vặt nó dễ hơn”, ông Hữu Si chia sẻ thêm.

Trên cơ sở những gì có được từ các chuyến điền dã kéo dài suốt cả năm 1990, khi trở về nhóm các cán bộ văn hóa tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu các cái bài hát cổ, những bài hát đối chỉnh (cả nhạc và lời), những quy định của các hội thi hát quan họ truyền thống... Để rồi đề xuất cách thức tổ chức một hội thi hát quan họ phù hợp nhất. Và hội thi hát đầu tiên được tổ chức năm 1991 tại Trung tâm Văn hóa Quan họ (cũ) tại thị xã Bắc Ninh.

Thêm một hội hát vùng Kinh Bắc

“Năm đầu tiên chúng tôi chỉ làm thử, không chấm giải mà để hội thi có tính chất giao lưu. Ai phát hiện ra cụ nghệ nhân nào ngày xưa đi chơi quan họ, có giọng hát hay là chúng tôi đều mời ra. Ví dụ như có cụ Son, cụ Sôi, cụ Thành và cả ông Chung (làng Diềm)... một số các cụ cũng lâu rồi tôi quên tên”, ông Hữu Si chia sẻ. Để vừa phát huy được giá trị truyền thống, vừa thu hút được nhiều người tham gia, cuộc thi tổ chức thành hai sân. Sân thi hát đối đáp dành cho quan họ cổ theo đúng lề lối được tổ chức tại gốc cây đa to ở sân trung tâm và sân thi giọng hát hay dành cho những làn điệu phổ thông tổ chức trong hội trường của trung tâm. Trong năm đầu tiên này, bên cạnh việc mời các nghệ nhân đến, còn có sự xuất hiện của một số diễn viên Đoàn Dân ca Quan họ Bắc Ninh như Thúy Cải, Lệ Ngải, Lan Hương... “Chỉ là ra hát hầu các cụ một đôi câu chứ lúc đấy ngay cả đoàn quan họ cũng chưa biết nhiều bài lề lối, các bài cổ, nên anh chị em diễn viên xuất hiện để các cụ thấy yên tâm vì có thế hệ trẻ quan tâm”, ông Hữu Si cho biết. Năm đầu dù chưa chấm giải nhưng có đầy đủ ban tổ chức, ban giám khảo cũng như những quy định, nội dung yêu cầu của hội thi. Cả ba cán bộ văn hóa nằm trong ban tổ chức. Trong khi, giám khảo có nhà nghiên cứu Hồng Thao, Trần Linh Quý và hai nghệ nhân, trong đó có cụ Son. Về đề thi là khoảng 20 bài, trước hội thi, ban tổ chức đã giao về cho các làng.

Ảnh: Lê Anh Dũng

Từ năm 1992 chính thức tổ chức hội thi hát quan họ đầu xuân. Mừng vì lượng nghệ nhân và thí sinh đăng ký tham dự nhưng lại có những phát sinh, ông Hữu Si bộc bạch: “Trong quá trình thi thì nó lại đẻ ra chuyện bất cập là không biết chấm thế nào là đúng, thế nào là không đúng. Chúng tôi phải dựa vào nghệ nhân để thẩm định. Cái nào chưa được thì các cụ đánh giá thêm vào”. Trở về sau hội thi tiếp tục nghiên cứu và bổ sung bằng cách phát xuống cho các làng 20 bài chỉ định. Các làng phải học 20 bài này đồng thời phải tự tìm học 20 bài đối sao cho phù hợp. Những năm tiếp theo, bên cạnh việc liên tục nhân lên số lượng bài các nhà tổ chức còn nâng dần mức độ khó lên bằng cách không giao bài chỉ định nữa, mà áp dụng hình thức bốc thăm, tức là bốc bất kỳ bài nào cũng phải hát được. Sau đó, thêm yêu cầu bên ra đối một bài bất kỳ thì bên kia cũng phải thuộc bài đối tương ứng. Từ đó trở đi người chơi quan họ bắt đầu thuộc rất nhiều bài. Hội thi hát mỗi ngày một phát triển.

Xuất hiện một thế hệ nghệ nhân mới

Bên cạnh các cụ nghệ nhân lớn tuổi, ngày càng nhiều người chơi quan họ tham gia, điều này khiến cho các cụ nghệ nhân cảm thấy toại nguyện, nhà tổ chức cảm thấy yên lòng. Ngay năm tổ chức trao giải đầu tiên, 1991, hội thi đã thu hút nhiều người chơi quan họ thuộc các lứa sau. Trong đó vào chung kết là hai cặp đôi bà Hình, bà Khánh làng Võ Cường và ông Dứa, ông Lụt ở Yên Phong. Những năm sau có lớp trẻ hơn như anh Nam, anh Hiệp ở làng Thổ Hà (Việt Yên), chị Ly, chị Sổ ở làng Diềm, anh Bàng, chị Nội ở làng Y Na, rồi chị Quýnh (Yên Phong)... Đặc biệt là đôi liền chị - chị Sang, chị Thềm là con gái cụ Thành cũng đã bắt đầu xuất hiện.

Những giọng hát xuất sắc được phát hiện từ hội thi hằng năm ngày càng gắn bó với quan họ. Họ không ngừng tìm tòi, học hỏi trau dồi vốn liếng và truyền dạy cho các thế hệ tiếp nối. Trong đó, có thể kể tới các liền chị như chị Hình, chị Quýnh đã sưu tầm rất nhiều bài quan họ, mở các câu lạc bộ tại địa phương, dạy hát quan họ trong nhà trường... Các anh Nam, anh Hiệp, chị Sang, chị Thềm... không ngừng trau dồi và ngày càng đam mê với những câu hát, truyền dạy cho những hạt nhân trẻ yêu nghề chơi quan họ. Hầu hết các liền anh, liền chị đã trở thành nghệ nhân có uy tín của vùng Kinh Bắc, được nhân dân ghi nhận, được phong tặng các danh hiệu dành cho nghệ nhân.

Như vậy, không chỉ đơn thuần là sáng tạo một không gian sinh hoạt văn hóa mới cho quan họ dựa trên những yếu tố truyền thống, việc xuất hiện hội thi hát quan họ cấp tỉnh còn góp phần hữu hiệu bảo tồn và phát huy giá trị di sản đặc biệt của Kinh Bắc cho đất nước. Và trong thành công đó, không thể không nhắc tới những người đặt nền móng cho hội thi, đó là ban giám đốc Sở Văn hóa Hà Bắc cũ với các ông Khoa, ông Bưu, các nhà nghiên cứu Hồng Thao, Trần Linh Quý, các nghệ nhân lớn tuổi, đặc biệt là 3 cán bộ văn hóa của Sở là các ông Trụ, ông Bàng và ông Hữu Si.

Nhà lí luận âm nhạc, nhạc sĩ Nguyễn Quang Long

Print
Tags: