Hội thảo đổi mới tư duy tiểu thuyết VN đương đại: “Cái nhìn ngược sáng” của tiểu thuyết tư liệu (Thứ Tư 28/02/2018 | 09:06 GMT+7)

LTS: Hôm nay 28.2 tức 13 tháng Giêng Mậu Tuất, Hội Nhà văn VN tổ chức Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết VN đương đại. Đây là hoạt động nằm trong chuỗi sự kiện Ngày thơ VN lần thứ 15 năm 2018. Nhìn từ hiện tượng cuốn tiểu thuyết Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75, nhà phê bình Bùi Việt Thắng đã soi rọi “ống kính” của tiểu thuyết tư liệu trong khuôn hình góc rộng của tiểu thuyết VN đương đại.

 Vì sao nhà văn lại chọn hình thức tư liệu để tái hiện chiến tranh? Vẫn biết, văn học hư cấu là chủ đạo trong mọi thời đại văn chương. Nhưng khi hư cấu bất thành, thấp lè tè, nhợt nhạt thì văn học tư liệu lại luôn “ròng ròng sự sống” có tác dụng vượt trội. Những bộ phim tài liệu về hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc VN cho đến nay vẫn còn rất nhiều hấp dẫn với khán giả. Như thế văn học tư liệu (cũng như phim tư liệu) thực sự có triển vọng trong tương lai. Thực tế, trong đời sống văn chương VN gần đây văn học tư liệu đang có xu hướng lên ngôi. Nhưng có một hiện tượng đáng chú ý nhất - đó là sự ra mắt độc giả tiểu thuyết Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 do NXB Chính trị quốc gia - Sự thật ấn hành năm 2014 và tái bản năm 2015, 2016 của nhà báo - nhà văn Trần Mai Hạnh. Chúng tôi gọi đó là một hiện tượng vì nhiều lẽ trong và ngoài văn chương.

Trong phạm trù văn chương thì chiến tranh, với sự xuất hiện của Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75, một lần nữa tái khẳng định tính chất, ý nghĩa “siêu đề tài” của văn chương viết về chiến tranh. Năm 2014 đồng thời xuất hiện Miền hoang của Sương Nguyệt Minh, Mình và họ của Nguyễn Bình Phương, Xác phàm của Nguyễn Đình T,…đều hướng tới tái hiện những cuộc chiến đã qua chắc phải có một nguyên cớ gì đó mà không đơn giản chỉ có thể giải thích bằng văn chương thuần túy. Dường như tại thời điểm này cái gọi là “tâm thức cộng đồng Việt” đang trỗi dậy, đang phát sáng, đang tỏa nhiệt. Thời điểm này, Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 trình làng có lẽ lại hợp thời hơn chăng?! Hợp thời vì nó mang lại kì vọng cho độc giả, đặc biệt thế hệ độc giả sinh sau năm 1975, về một tương lai của văn học viết về chiến tranh.

Chiến tranh như chưa kết thúc trong ký ức không chỉ của một thế hệ và nó cũng như chưa kết thúc trong cảm hứng sáng tác của các nhà văn đương thời và cả trong tương lai. Với ý nghĩa đó tiểu thuyết của Trần Mai Hạnh cho phép chúng ta nghĩ tới tiền đồ của “văn học tư liệu” về chiến tranh. Đó cũng là sự xác nhận một thực tế: cho đến nay những tác phẩm viết thành công về chiến tranh chủ yếu vẫn thuộc về những nhà văn đã trải nghiệm chiến tranh với tư cách là người trong cuộc. Tiếng nói nghệ thuật của người trong cuộc, theo chúng tôi, dẫu sao vẫn có quyền năng trong việc chinh phục độc giả.

Nói Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 là một hiện tượng văn chương còn bởi chính “cái nhìn ngược sáng” của nhà văn thể hiện rất rõ trong tác phẩm. Đã từ lâu, như một truyền thống mặc định, viết về chiến tranh thông thường nhà văn chọn góc nhìn thuận, như nghệ sĩ nhiếp ảnh chọn góc độ ống kính thuận chiều ánh sáng khi tác nghiệp. Nghĩa là viết về “phe chính nghĩa”, viết về “ta thắng địch thua”; hình tượng trung tâm là người lính cách mạng. Nghĩa là viết với tư thế của người chiến thắng. Việc chọn đối phương, cụ thể ở đây là chính thể Việt Nam Cộng hòa, từ nguyên thủ đến các quan chức cao cấp, các tướng lĩnh đến tận hàng binh sĩ của một chính phủ - mà ta quen gọi là “ngụy”- làm đối tượng miêu tả, tái hiện chính khiến nhà văn sẽ gặp không ít khó khăn, thử thách. Thứ nhất là vấn đề “lập trường”, “quan điểm” (phải khách quan, không được chủ quan), thứ hai là phải “biết địch biết ta”, nghĩa là phải hiểu rõ đến “chân tơ kẽ tóc” đối phương như hiểu chính chúng ta vậy. Thứ ba là phải có nguồn tư liệu dồi dào, chính xác và có độ tin cậy cao.

Tôi cho rằng nếu như tạm thời không tính đến tiểu sử của nhà văn thì độc giả sẽ hình dung tác giả của Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 phải là một người trước đó làm việc trong Phủ Đầu Rồng, hoặc là một ký giả (có thể là người Việt, có thể là người nước ngoài) tác nghiệp tại miền Nam VN vào đúng thời kì lịch sử “nước sôi lửa bỏng” trong những tháng ngày đáng ghi nhớ của một quá trình sụp đổ của một chính thể. Nhưng trong thực tế thì tác giả đóng vai một nhà phân tích và bình luận thời cuộc thông qua một nguồn tư liệu đồ sộ, phong phú, có độ chính xác và tin cậy cao. Xét về phương diện văn chương nói chung, tiểu thuyết nói riêng thì tác giả cần phải biết bắt đầu từ đâu và kết thúc ở chỗ nào cho hợp tình hợp lí.

“Cái nhìn ngược sáng” giúp tác giả “chui sâu leo cao” vào “hang ổ” của đối phương để lần đầu tiên bằng hình thức “văn chương tư liệu”, mà cụ thể là tiểu thuyết tư liệu - lịch sử, tái hiện chân dung một chính thể hiện diện qua những cá nhân từ chóp bu đến ngạch cuối của một hệ thống với ý nghĩa là đối phương của chúng ta. “Cái nhìn ngược sáng” cũng giúp tác giả khắc họa chỉ bằng những nét chấm phá nhưng đầy ấn tượng về những người Mỹ vốn được coi là đồng minh và là bạn của chính thể Việt Nam Cộng hòa. Sẽ có không ít người trong số chúng ta cho rằng nhà văn trong trường hợp này “ỷ” vào tư liệu nên không phát huy được cái gọi là “hư cấu” vốn được xem như là một phẩm tính quan trọng của quá trình sáng tạo.

Bùi Việt Thắng

 

Print
Tags: